Nhồi máu cơ tim: Kiến thức tổng quát, dự phòng và điều trị!

Tạp chí Sức Khỏe |

Sức Khỏe - Bệnh nhồi máu cơ tim là bệnh lý tim mạch nguy hiểm có thể đe dọa đến tính mạng người bệnh nếu không được phát hiện sớm và cấp cứu kịp thời.

Bệnh nhồi máu cơ tim là gì?


nhồi máu cơ tim cấp, nhồi máu cơ tim là gì, nhồi máu cơ tim điều trị, nhồi máu cơ tim và điều trị, nhồi máu cơ tim và phòng ngừa, nhồi máu cơ tim và cách xử trí, xử trí khi bị nhồi máu cơ tim, nhồi máu cơ tim và cách sơ cứu, nhồi máu cơ tim và cách chăm sóc, nhồi máu cơ tim ăn gì, chế độ ăn của nhồi máu cơ tim, dấu hiệu nhồi máu cơ tim, nguyên nhân nhồi máu cơ tim, phòng ngừa nhồi máu cơ tim, nhồi máu cơ tim sơ cứu, nhồi máu cơ tim uống thuốc gì, tạp chí sức khỏe, khoe24h, chuyên san sức khỏe, sức khỏe

Nhồi máu cơ tim là một thuật ngữ y học để chỉ tình trạng hoại tử một phần cơ tim do giảm sút đáng kể lượng máu cung cấp đến một vùng cơ tim.
Phần lớn các trường hợp nhồi máu cơ tim xảy ra là do mạch vành bị tắc nghẽn bởi cục máu đông. Các mạch vành này đóng vai trò mang máu và oxy tới tim. Nếu lưu lượng máu đến tim bị ngưng trệ sẽ khiến tim thiếu oxy và tế bào tim sẽ bị chết. Tình trạng này thuật ngữ y học gọi là nhồi máu cơ tim.
Bệnh nhồi máu cơ tim gây ra tỷ lệ tử vong khá cao. Theo các nghiên cứu của các chuyên gia y khoa đầu ngành thì bệnh nhồi máu cơ tim gây ra các biến chứng cực kì nguy hiểm đến sức khỏe, có thể nguy hiểm đến tính mạng nếu không được phát hiện và điều trị sớm như:
– Suy tim: Thường xảy ra trong hai tuần đầu, đối với người bị nhồi máu cơ tim. Người bệnh có thể bị trụy mạch, tụt huyết áp, mạch nhanh, yếu và toát mồ hôi khiến người bệnh cảm thấy khó thở.
– Tai biến do tắc mạch: Do hình thành các cục máu đông gây nghẽn mạch máu dẫn đến đột quỵ. Tỉ lệ xảy ra biến chứng từ 20-40% trong 10 ngày đầu.
– Vỡ tim: biến chứng nguy hiểm nhất của nhồi máu cơ tim là có thể bị vỡ tim, vỡ thành tự do, vỡ vách liên thất gây tử vong đột ngột. Tỷ lệ xảy ra là từ 5-10%.
– Đau thần kinh nhạy cảm: người bệnh có cảm giác đau ê ẩm, nặng nề ở vùng trước tim, làm suy nhược cơ thể và tâm thần.
– Đau thấp khớp: Còn gọi là viêm quanh khớp cách tay, thường xảy ra vai và tay trái

Nguyên nhân gây ra nhồi máu cơ tim

Có 2 nguyên nhân chính gây tắc mạch vành: Mảng xơ vữa và cục máu đông. Ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim thường có sự kết hợp cả 2 yếu tố này: Khi mỡ lắng xuống xung quanh thành mạch chúng tạo ra những mảng xơ vữa, theo thời gian khối mỡ này dày lên, làm cho lòng mạch hẹp lại gây cản trở dòng máu lưu thông. Kết hợp với cục máu đông sẽ dẫn đến tắc hoàn toàn mạch vành và nhồi máu cơ tim xảy ra.

Nhồi máu cơ tim có thể xảy ra:
– Khi đang nghỉ ngơi hoặc ngủ.
– Sau khi hoạt động thể chất.
– Khi hoạt động bên ngoài trong thời tiết lạnh.
– Sau khi trải qua căng thẳng tinh thần hoặc suy giảm thể chất nghiêm trọng.

Triệu chứng của nhồi máu cơ tim

Nhồi máu cơ tim là tình trạng cần được cấp cứu. Nếu phát hiện thấy có những triệu chứng của một cơn nhồi máu cơ tim, cần nhanh chóng gọi cấp cứu và tìm kiếm sự giúp đỡ của người thân hoặc bạn bè.
– Không tự lái xe đến bệnh viện.
– Không chờ đợi. Tỷ lệ tử vong cao nhất vì nhồi máu cơ tim xảy ra chính là vào giờ đầu tiên. Do đó việc chạy đua với thời gian là yếu tố sống còn quyết định sinh mạng của bệnh nhân.
Đau ngực là triệu chứng phổ biến nhất của một cơn nhồi máu cơ tim. Người bệnh có thể chỉ cảm thấy đau ở một phần của cơ thể hay cơn đau lan tỏa từ ngực đến cánh tay, vai, cổ, răng, hàm, vùng bụng, hoặc lưng. Đau thắt ngực do nhồi máu cơ tim có thể kéo dài hơn 20 phút. Nghỉ ngơi và sử dụng các thuốc làm giãn mạch không làm giảm cơn đau. Triệu chứng đi kèm là tim đập mạnh liên hồi, toát mồ hôi, buồn nôn, khó thở, mặt tái nhợt, chóng mặt và bất tỉnh.
Một số trường hợp nhồi máu cơ tim không bị đau thắt ngực hoặc có những triệu chứng bất thường như khó thở, mệt mỏi và suy nhược. Tình trạng này được gọi là “nhồi máu cơ tim thầm lặng”.

Chẩn đoán bệnh nhồi máu cơ tim

Trong chẩn đoán bệnh nhồi máu cơ tim, trước hết các bác sĩ sẽ khám lâm sàng và tiến hành nghe tim, đo huyết áp.
Để xác định liệu có tổn thương mô tim hay không, người bệnh được yêu cầu đo điện tâm đồ và làm xét nghiệm máu.
Chụp động mạch vành có thể được thực hiện ngay lập tức hoặc sau khi bệnh nhân đã ổn định hơn. Chụp động mạch vành giúp bác sĩ quyết định phương pháp điều trị nào hiệu quả nhất cho người bệnh.
Ngoài ra còn có một số xét nghiệm kiểm tra tim khác là siêu âm tim gắng sức hoặc không gắng sức, nghiệm pháp gắng sức…

Điều trị bệnh nhồi máu cơ tim
Cấp cứu
Bệnh nhân có triệu chứng đau thắt ngực cần được điều trị trong phòng cấp cứu.
– Dưỡng khí oxygen
– Điện tâm đồ
– Aspirin: để làm loãng máu và làm giảm sự tăng trưởng của cục máu đông.
– Glyceryl trinitrate: thuốc này có thể cho vào dưới lưỡi bệnh nhân – có nhiều tácc dụng: làm thư giãn mạch máu , giảm huyết áp…
– Chống đau: morphine có thể dùng để chống đau, làm bệnh nhân bớt sợ hãi (giảm adrenaline, giảm độ nhịp tim, bớt công việc cho tim)
– Theo dõi biến chứng: loạn nhịp tim, thay đổi huyết áp
Làm thông động mạch vành tim
– Điều trị nội khoa: thuốc làm tan cục máu đông (thrombolysis).
– Điều trị ngoại khoa: thò ống thông xuyên qua động mạch đùi đi vào động mạch vành tim, làm nong mạch, phá vỡ cục máu đông và mảng xơ vữa, đồng thời có thể nhét ống căng mạch (cardiac catherization & angioplasty +/- stent).
Bệnh nhân nhồi máu cơ tim cũng có thể phải tiến hành giải phẫu ghép động mạch tim.
Sau khi điều trị qua giai đoạn hiểm nghèo ban đầu của nhồi máu cơ tim, người bệnh cần tiếp tục theo dõi tại bệnh viện, tuân thủ đúng hướng dẫn của bác sĩ về chế độ ăn uống, sinh hoạt sau khi xuất viện đồng thời tái khám định kỳ,

Có cách nào phòng ngừa bệnh nhồi máu cơ tim?
– Với những người có yếu tố nguy cơ mắc bệnh thì nên ăn kiêng để chống béo phì, ăn nhiều rau quả, hạn chế mỡ động vật.
– Chú ý điều trị hoặc kiểm soát tốt các bệnh tiểu đường, cao huyết áp, loét dạ dày tá tràng.
– Để phòng ngừa nhồi máu cơ tim, người bệnh cũng đặc biệt cần có chế độ nghỉ ngơi, làm việc hợp lý, không gắng sức quá, tránh xúc động mạnh, tập những môn thể thao nhẹ nhàng, như dưỡng sinh, đi bộ khoảng 30 phút mỗi ngày. Tránh những môn thể thao gây gắng sức, căng thẳng như các trò đối kháng.
– Ngoài ra, bạn cần hạn chế hoặc bỏ hẳn thuốc lá, các chất kích thích.
– Khám sức khỏe định kỳ để được bác sĩ chuyên khoa thăm khám và theo dõi chỉ định phương pháp điều trị hiệu quả.

Xử trí khi bị nhồi máu cơ tim
Ở người bệnh nhồi máu cơ tim thường xuất hiện những cơn đau tức ngực, khó thở và tăng tụt huyết áp đột ngột. Chính vì vậy, việc lắng nghe cơ thể của chính mình là điều quan trọng giúp người bệnh biết điều chỉnh các hoạt động ở thực tại để không ảnh hưởng tới sức khỏe.
Khi xuất hiện triệu chứng khó thở, đầu óc choáng váng, người bệnh nên dành thời gian nghỉ ngơi và ngưng mọi hoạt động hiện tại để tránh tình trạng đột quỵ có thể xảy ra. Tốt nhất, người bệnh nên nằm xuống đề phòng trường hợp tụt huyết áp và tinh thần không thể tỉnh táo.
Đối với các trường hợp bệnh xảy ra thường xuyên, người bệnh nên mang theo thuốc trợ tim bên mình và uống thuốc ngay khi thấy những dấu hiệu bất thường của bệnh. Trường hợp khó thở nên dùng bình thở oxy để tăng cường hệ hô hấp.

Ai là người dễ bị nhồi máu cơ tim?

Nam giới trên 45 và nữ giới trên 50 là những người có nguy cơ cao nhồi máu cơ tim. Tuy nhiên, kể cả những người trẻ cũng có thể có nhồi máu cơ tim nhưng tỷ lệ ít hơn.

Những người trước đó đã có nhồi máu cơ tim thì rất dễ bị lại nhồi máu cơ tim lần tới.

Những người có tiền sử gia đình có nhồi máu cơ tim sớm như bố hoặc anh trai có nhồi máu cơ tim dưới 55 tuổi và mẹ hoặc chị gái có nhồi máu cơ tim dưới 65 tuổi.

Những bệnh nhân có đái tháo đường. Những bệnh nhân này có nguy cơ nhồi máu cơ tim tương tự như bệnh nhân đã bị nhồi máu cơ tim.

Những người có các yếu tố nguy cơ cao như những bệnh nhân rối loạn mỡ máu, huyết áp cao, hút thuốc lá, béo phì, ít hoạt động thể lực là những người dễ bị nhồi máu cơ tim.

 Lưu ý:

Triệu chứng cảnh báo rõ ràng nhất của nhồi máu cơ tim là đau ngực. Cơn đau ngực thường ở giữa xương ức và kéo dài trong một vài phút. Cơn đau có thể xuất hiện rồi hết đi và lại đau lại. Cơn đau làm cho chúng ta cảm thấy như có gì ép lên ngực, đau như dao đâm hoặc cảm thấy nghẹt thở. Cơn đau cũng có thể xuất hiện ở các vị trí khác như ở sau lưng, trên cổ, trên hàm hoặc vùng dưới dạ dày. Khó thở thường xuất hiện đi kèm với cơn đau ngực. Một số triệu chứng khác cũng có thể đi kèm như lạnh toát mồ hôi, nôn hoặc đau đầu nhẹ. Khi có những cơn đau ngực như vậy, hãy đến một bệnh viện gần nhất có thể hoặc đến một bệnh viện có trung tâm tim mạch can thiệp. Hiện nay, tại nước ta đã có hơn 55 trung tâm tim mạch can thiệp trên hơn 20 tỉnh thành trong toàn quốc. Khi nhồi máu cơ tim, các bạn nên đến những trung tâm tim mạch can thiệp này.

Khi có đau ngực, thậm chí bạn không chắc chắn là cơn đau ngực như miêu tả trên, bạn cũng nên đến bệnh viện kiểm tra. Chúng ta nên nhớ nên đến viện sớm nhất có thể khi có đau ngực nghi do nhồi máu cơ tim.

TS.BS. Phạm Như Hùng
(Tổng thư ký Hội Tim mạch học Can thiệp Việt Nam)         

TAGS

Cảnh giác cơn đau thắt ngực và bệnh mạch vành

Tạp chí Sức Khỏe |

Sức Khỏe- Bệnh mạch vành (gọi đầy đủ là bệnh động mạch vành) là tình trạng lòng mạch bị hẹp một phần hoặc tắc nghẽn làm hạn chế dòng máu đến nuôi dưỡng tim. Nếu không phát hiện kịp thời rất dễ dẫn đến nhồi máu cơ tim với tỉ lệ tử vong cao.

4 bệnh nam giới cần đề phòng khi có tuổi

Tạp chí Sức Khỏe (Sống Khỏe) |

Đó là các bệnh liên quan đến tim mạch như nhồi máu cơ tim, đột quỵ, rối loạn cương dương, ung thư tuyến tiền liệt và rụng tóc.

9 sai lầm về sức khỏe dễ khiến đàn ông tử vong

Tạp Chí Sức Khỏe (Theo DOPT) |

Theo thói quen hoặc theo những thông tin không có kiểm chứng, những gã đàn ông như chúng ta luôn mắc sai lầm khi nghe hoặc tin. Việc gì sai cũng có thể sửa sai, riêng sức khoẻ thì đôi khi không còn cơ hội.

Những bệnh người cao tuổi cần cảnh giác

|

Trong những ngày Tết, do thay đổi về thời tiết kết hợp với thay đổi về nếp sinh hoạt, công việc và chế độ ăn uống, ngủ, nghỉ... khiến người cao tuổi dễ gặp nhiều “rắc rối” về sức khỏe, nhất là với những người sẵn có các bệnh mạn tính.