Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị suy hô hấp nặng do bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

|

(Sức Khỏe – khoe24h) Những trường hợp đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT, COPD) có đe dọa cuộc sống hoặc những bệnh nhân có ≥2 dấu hiệu nặng trong bảng đánh giá mức độ nặng của đợt cấp BPTNMT, cần được điều trị tại khoa hồi sức.

suy hô hấp, suy hô hấp nặng, chẩn đoán suy hô hấp, điều trị suy hô hấp, kháng sinh suy hô hấp, bệnh phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, , tạp chí sức khỏe, khoe24h, tap chi suc khoe, sức khỏe, suc khoe.
Hình minh họa. (Ảnh internet)
Chẩn đoán

Chẩn đoán xác định

Triệu chứng lâm sàng.

−  Đã được chẩn đoán BPTNMT.

−  Xuất hiện các dấu hiệu:

+  Khó thở tăng lên, thở rít.

+  Nghe phổi có nhiều ran ngáy, ran rít; có thể có ran nổ hoặcran ẩm.

+  Khạc đờm nhiều hơn, đờm đục.

+  Có thể có tím, vã mồ hôi.

+  Rối loạn tinh thần, nếu khó thở nguy kịch có thể rối loạn ýthức, thậm

chí hôn mê.

Triệu chứng cận lâm sàng.

−  PaO2 giảm nặng, SpO2 giảm, PaCO2 tăng cao, pH giảm.

−  X-quang  phổi:  hình  ảnh  thành  phế  quản  dày,  phổi  quá  sáng,  có  hình lưới, nốt, thâm nhiễm hai bên phổi.

Chẩn đoán nguyên nhân

−  Nguyên nhân trực tiếp thường gặp nhất gây đợt cấp là nhiễm trùng khí phế  quản  phổi  cấp  do  virus  hoặc  vi  khuẩn  (các  vi  khuẩn  thường  gặp  là Streptococcus pneumoniae,  Hemophilus  influenzae và  Moraxella  catarrhalis), Pseudomonas aeruginosa.

−  Nguyên nhân khác: nhiễm lạnh, bụi ô nhiễm, khói khí độc.

−  Không rõ nguyên nhân: 1/3 các trường hợp.

Chẩn đoán phân biệt

−  Lao phổi.

−  Hen phế quản.

−  Tràn khí màng phổi.

−  Nhồi máu phổi.

Đánh giá mức độ nặng của đợt cấp BPTNMT

suy hô hấp, suy hô hấp nặng, chẩn đoán suy hô hấp, điều trị suy hô hấp, kháng sinh suy hô hấp, bệnh phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, , tạp chí sức khỏe, khoe24h, tap chi suc khoe, sức khỏe, suc khoe.
Bảng đánh giá mức độ nặng của đợt cấp BPTNMT
Chú ý: Chỉ cần có 2 tiêu chuẩn của mức độ nặng trở lên ở một mức độ là đủ.

Điều trị

Đợt cấp BPTNMT có suy hô hấp nặng

−  Thở oxy qua gọng kính, giữ SpO2: 90% - 92%.

−  Dùng thuốc giãn phế quản tại chỗ:

+  Thuốc  c−ờng  beta-2,  khí  dung  qua  mặt  nạ  5  mg  (salbutamol, terbutalin), nhắc lại tuỳ theo tình trạng BN, có thể dùng nhiều lần.

+  Thuốc kháng cholinergic: ipratropium (0,5 mg) khí dung qua mặt nạ, nhắc lại nếu cần thiết.

+  Dạng  kết  hợp  thuốc  kháng  cholinergic  và  cường  beta-2  adrenergic (Fenoterol/Ipratropium; Salbutamol/ Ipratropium) khí dung qua mặt nạ.

−  Kết hợp truyền tĩnh mạch các thuốc c−ờng beta-2 (salbutamol, terbutalin).

+  Tốc  độ  khởi  đầu  0,5  mg/giờ,  điều  chỉnh  liều  theo  đáp  ứng  của  bệnh nhân (tăng tốc độ truyền 30 phút/lần cho tới khi có đáp ứng hoặc đạt liều tối đa 3 mg/giờ).

+  Có thể dùng aminophylin 0,24 g pha với 100 ml dịch glucose 5%, truyền trong  30-  60  phút,  sau  đó  truyền  duy  trì  với  liều  0,5  mg/kg/giờ.  Tổng  liều theophyllin không quá 10 mg/kg/24 giờ.

−  Methylprednisolon 2 mg/kg/24 giờ tiêm tĩnh mạch chia 2 lần.

−  Kháng sinh:

+  Cephalosporin thế hệ 3 (cefotaxim hoặc ceftazidim 3 g/ngày).

+  Kết hợp với nhóm aminoglycosid hoặc fluoroquinolon.

+  Nếu  nghi  ngờ  nhiễm  khuẩn  bệnh  viện:  dùng  kháng  sinh theo  phác  đồ xuống thang, dùng kháng sinh phổ rộng và có tác dụng trên trực khuẩn mủ xanh.

Thở máy không xâm nhập

−  Thường lựa chọn phương thức BiPAP:

+  Bắt đầu với: IPAP = 8 - 10 cmH2O.

+  EPAP: 4 - 5 cmH2O.

+  FiO2điều chỉnh để có SpO2 > 90%.

+  Điều chỉnh thông số: tăng IPAP mỗi lần 2 cmH2O.

−  Mục  tiêu:  bệnh  nhân  dễ  chịu,  tần  số  thở  <  30/phút,  SpO2 >  90%,  xét nghiệm không có nhiễm toan hô hấp.

−  Nếu thông khí không xâm nhập không hiệu quả hoặc có chốngchỉ định: đặt ống nội khí quản và thông khí nhân tạo qua ống nội khí quản.

Thở máy xâm nhập

−  Phương thức: nên chỉ định thông khí nhân tạo hỗ trợ/điều khiển thể tích

+  Vt = 5 - 8 ml/kg

+  I/E = 1/3.

+  Trigger 3-4 lít/phút.

+  FiO2 lúc đầu đặt 100%, sau đó điều chỉnh theo oxy máu.

+  PEEP = 5 cmH2O hoặc đặt bằng 0,5 auto PEEP.

−  Các  thông  số  được  điều  chỉnh  để  giữ  Pplat  <  30  cmH2O,  auto-PEEP không  tăng,  SpO2>  92%,  pH  máu  >  7,20.  Duy  trì  tần  số  thở  ở  khoảng  20

lần/phút bằng thuốc an thần.

−  Trong trường hợp bệnh nhân khó thở nhiều, không thở theo máy, có thể chuyển sang thông khí điều khiển (thể tích hoặc áp lực).Tuy nhiên, việc dùng an thần liều cao hoặc giãn cơ có thể làm khó cai thở máy.

−  Đánh giá tình trạng bệnh nhân hàng ngày để xem xét cai thở máy khi các yếu tố gây mất bù đã được điều trị ổn định.

Đợt cấp BPTNMT có suy hô hấp nguy kịch

−  Bóp bóng qua mặt nạ với oxy 100%.

−  Đặt ống nội khí quản, thông khí nhân tạo.

−  Hút đờm qua nội khí quản lèm xét nghiệm vi khuẩn học.

−  Dùng thuốc giãn phế quản truyền tĩnh mạch.

−  Tiêm tĩnh mạch corticoid.

−  Dùng thuốc kháng sinh tiêm tĩnh mạch.

Kháng sinh

Dùng  kết  hợp  kháng  sinh:  nhóm  cephalosporin  thế  hệ  3  (ceftazidim  3 g/ngày) hoặc imipenem 50 mg/kg/ngày, kết hợp amikacin 15 mg/kg/ngày hoặc ciprofloxacin 800 mg/ngày levofloxacin 750 mg/ngày.

Theo dõi - Dự phòng

−  Theo dõi tình trạng suy hô hấp, tắc nghẽn phế quản để điều chỉnh liều thuốc và thông số máy thở.

−  Theo dõi phát hiện biến chứng của thở máy.

−   Đánh giá ý thức bệnh nhân, tiến triển của bệnh hàng ngày để xem xét chỉ định cai thở máy.

−  Dự phòng: xem bài hướng dẫn chẩn đoán và điều trị BPTNMT.

Tạp chí Sức Khỏe

TAGS

Chăm sóc trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính

|

NKHHCT là bệnh nhiễm khuẩn của đường thở (từ tai, mũi, họng, đường dẫn khí cho đến phổi), thường có biểu hiện ho không quá 30 ngày.

Cách nhận biết và xử trí viêm phổi trẻ em tại nhà

|

Người ta ước tính rằng, mỗi năm 1 em bé dưới 5 tuổi có thể mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính từ 5 đến 8 lần.

Phòng bệnh đường hô hấp ở người cao tuổi

|

Người cao tuổi, mọi chức năng của cơ thể đều bị suy giảm trong đó sức đề kháng cũng giảm đi thì mọi loại bệnh tật có thể tấn công dễ dàng hơn, nhất là các bệnh gây ra bởi vi sinh vật (virus, vi khuẩn, vi nấm).