Điều trị bệnh tiểu đường

|

(Sức Khỏe – khoe24h) Đái tháo đường (tiểu đường) gia tăng mạnh trong thời gian gần đây. Có quá nhiều thông tin về căn bệnh tiểu đường từ nhiều nguồn khác nhau khiến người bệnh khó hình dung được cụ thể về bệnh và cách phòng tránh, điều tri.

Tạp chí Sức Khỏe xin giới thiệu kiến thức tổng quát nhất về căn bệnh tiểu đường theo hướng dẫn của Bộ Y tế để bạn đọc tham khảo.  

Về diễn biến bệnh và các biến chứng của tiểu đường, ý nghĩa quan trọng của ăn uống và vận động thể lực, phép tính toán chuyển đổi thức ăn, nhận biết và điều trị tình trạng hạ đường huyết, tự kiểm soát đường máu, tự khám xét bàn chân, tiêm insulin... 

Khám và theo dõi đều đặn (1-2 lần/năm) để thăm dò biến chứng mạn tính và để theo dõi điều trị.

Đái tháo đường, điều trị đái tháo đường, điều trị bệnh đái tháo đường, các thuốc điều trị đái tháo đường, dinh dưỡng điều trị đái tháo đường, phối hợp thuốc trong điều trị đái tháo đường, chế độ ăn đái tháo đường, chế độ ăn bệnh nhân đái tháo đường, chế độ ăn của đái tháo đường, 	chế độ ăn uống cho người đái tháo đường, thuốc điều trị đái tháo đường, biến chứng đái tháo đường, điều trị biến chứng đái tháo đường, bệnh thận đái tháo đường, bệnh thần kinh đái tháo đường, tăng huyết áp và đái tháo đường, biến chứng cấp tính đái tháo đường, hôn mê tăng đường huyết, insulin, insulin điều trị bệnh đái tháo đường,, tạp chí sức khỏe, khoe24h, tap chi suc khoe, sức khỏe, suc khoe.
Hình mình họa. (Ảnh internet)

 

Chế độ ăn cho người tiểu đường (đái tháo đường)

Chế độ ăn là hết sức cần thiết trong điều trị bệnh tiểu đường, song có nhiều quan niệm sai lầm xung quang việc khuyến cáo về dinh dưỡng từ trước tới nay trong công tác chữa bệnh. Bệnh nhân thường ăn uống theo sự mách bảo là chủ yếu. Điều đó có căn nguyên từ sự hiểu biết hạn chế về nguyên nhân gây bệnh tiểu đường, về các phương thức điều trị...Với tiến bộ của khoa học, của các loại thuốc điều trị tiểu đường mới, ngày nay có xu hướng tự do hoá thành phần chất bột-đường trên cơ sở thoả mãn cùng lúc nhiều yếu tố như: cân bằng đường máu; giảm thiểu các yếu tố nguy cơ lên hệ tim-mạch, lên chức năng thận; tôn trọng sở thích cũng như thói quen của bệnh nhân và cả gia đình bệnh nhân với phương châm: ”Sức khỏe không chỉ là tình trạng có bệnh hay không mà còn là tình trạng thoải mái cả về thể chất cũng như tinh thần, xã hội”.

Do vậy chế độ ăn cần được điều chỉnh thích ứng cho từng bệnh nhân riêng biệt, phải thoả mãn đầy đủ một số yêu cầu cơ bản sau:

- Đủ chất Đạm- Béo- Bột- Đường- Vitamin- Muối khoáng- Nước với khối lượng hợp lý.

- Không làm tăng đường máu nhiều sau khi ăn.

- Không làm hạ đường máu lúc xa bữa ăn.

- Duy trì được hoạt động thể lực bình thường hàng ngày.

- Duy trì cân nặng ở mức cân nặng lý tưởng hoặc giảm cân đến mức hợp lý.

- Không làm tăng các yếu tố nguy cơ như rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp, suy thận…

- Phù hợp tập quán ăn uống của địa dư, dân tộc, của từng bệnh nhân và gia đình.

- Đơn giản và không quá đắt tiền.

- Không nên thay đổi quá nhanh và nhiều cơ cấu cũng như khối lượng của các bữa ăn.

Đái tháo đường, điều trị đái tháo đường, điều trị bệnh đái tháo đường, các thuốc điều trị đái tháo đường, dinh dưỡng điều trị đái tháo đường, phối hợp thuốc trong điều trị đái tháo đường, chế độ ăn đái tháo đường, chế độ ăn bệnh nhân đái tháo đường, chế độ ăn của đái tháo đường, 	chế độ ăn uống cho người đái tháo đường, thuốc điều trị đái tháo đường, biến chứng đái tháo đường, điều trị biến chứng đái tháo đường, bệnh thận đái tháo đường, bệnh thần kinh đái tháo đường, tăng huyết áp và đái tháo đường, biến chứng cấp tính đái tháo đường, hôn mê tăng đường huyết, insulin, insulin điều trị bệnh đái tháo đường,, tạp chí sức khỏe, khoe24h, tap chi suc khoe, sức khỏe, suc khoe.
Hình mình họa. (Ảnh internet)
I. Thành phần carbonhydrate (chất bột - đường):

Là nguồn cung cấp năng lượng chính cho cơ thể, chiếm từ 60-70% tổng số calo hàng ngày. Theo quan niệm trước đây lượng carbohydrate cần phải hạn chế, song những quan sát về dịch tễ trên cộng đồng sử dụng nhiều carbonhydrate (người sống ở nông thôn, người có mức sống eo hẹp, người thổ dân…) không thấy sự gia tăng số người mắc tiểu đường mà trái lại khi cộng đồng này có điều kiện hơn về dinh dưỡng (di cư, phát triển kinh tế) tiêu thụ nhiều chất béo và chất đạm hơn thường kéo theo bùng nổ về số người mắc tiểu đường. Do vậy khuyến cáo về chế độ ăn hiện nay về thành phần carbonhydrate không còn hạn chế khắt khe như trước (nhưng không có nghĩa là ăn thoải mái vô độ lượng).

Vấn đề chủ yếu là ăn các loại ngũ cốc toàn phần có đủ vitamin, chất xơ và muối khoáng. Các loại đường đơn và đường đôi nên tiêu thụ dưới dạng rau và hoa quả (có thể tới 10% tổng số calo trong ngày: ví dụ một người nặng 50 kg có thể ăn 200-400g quả chín mỗi ngày). Lượng đường có trong từng loại thức ăn cần được phổ biến rộng rãi cho bệnh nhân để tự họ có thể tính toán sao cho với các loại thức ăn khác nhau được tiêu thụ nhưng không làm biến động quá nhiều tổng lượng carbonhydrate hàng ngày. Ước lượng lượng đường trong một số thức ăn:

- Sữa tươi hoặc sau khi đã pha có 5% đường.

- Rau xanh có từ 2-10%.

- Quả tươi có 5-15%.

- Bánh mỳ có 50-55%.

- Gạo có 75-80%; cơm có từ 30-40%; miến khô có  83%.

- Khoai củ có 20%.

II. Thành phần lipide (chất béo):

Tỷ lệ chất béo trong bữa ăn người Việt Nam vốn không cao (chỉ chiếm từ 12-20% tổng số calo tiêu thụ hàng ngày theo điều tra dinh dưỡng năm 2000 của Viện dinh dưỡng quốc gia), khuyến cáo về tỷ lệ chất béo trước đây vào khoảng 25-30% áp dụng cho người Việt Nam là không thực tế vì:

- Không hợp khẩu vị của đa số người Việt Nam trong đó có người tiểu đường.

- Tạo điều kiện cho tăng mỡ máu ở người tiểu đường vốn chiếm tới 40%.

- Tạo điều kiện cho béo phì phát triển thêm (có khoảng trên 40% số người ĐTĐ ở vào tình trạng thừa cân và béo phì với BMI  >=23kg/m2.

Do vậy tỷ lệ chất béo đóng góp trong khẩu phần người tiểu đường nên trong phạm vi người bình thường (từ 15-20%) là hợp lý. Tuy nhiên tỷ lệ chính xác là bao nhiêu phụ thuộc vào các đặc điểm cá thể người đó như: thói quen ăn uống của bệnh nhân và gia đình, tình trạng béo phì, tăng mỡ máu, huyết áp, lượng đường máu…Với người có nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch lượng chất béo nên hạn chế; với người gầy và không có yếu tố nguy cơ tim mạch: lượng chất béo có thể tăng lên trên cơ sở bệnh nhân dung nạp được chế độ ăn đó. Nguồn gốc chất béo: vì đa số người tiểu đường ở vào độ tuổi > 60, tỷ lệ chất béo có nguồn gốc động vật/ thực vật nên là 50/50. Việc thay toàn bộ chất béo động vật bằng chất béo có nguồn gốc thực vật là không cần thiết (làm giảm vitamin A, D tan trong mỡ động vật; khó chế biến thức ăn…).

Lượng cholesterol ăn hàng ngày < 300mg. Với các trường hợp có tăng cholesterol và nguy cơ tim-mạch lượng cholesterol ăn < 200mg/ngày.

III. Thành phần chất protide (chất đạm):

Tỷ lệ chất đạm chiếm từ 10-20% tổng số calo hàng ngày tương ứng khoảng 0,8-1,2g/kg cân nặng (100g thịt nạc có khoảng 18g đạm, 100g gạo có khoảng 7g đạm). Với chế độ ăn giàu đạm hơn có thể ảnh hưởng đến tổn thương thận do đái tháo đường (khoảng 30% người đái tháo đường có biến chứng thận), mặt khác ăn nhiều đạm về lâu dài gây chán ăn và đắt tiền, tuy nhiên chế độ ăn giàu đạm có thể được áp dụng trong thời gian ngắn khi đường máu còn cao và khi áp dụng chế độ ăn giảm cân  (giảm calo). Khi suy thận cần phải giảm lượng đạm tiêu thụ 0,6g/kg/ngày nhưng không được < 0,5g/kg/ngày vì dẫn đến suy dinh dưỡng.

IV. Các yếu tố vi lượng và vitamin:

Việc sử dụng liều cao các chất chống oxy hoá như vitamin C, vitamin E, bêta caroten, selenium không được chứng minh có tác dụng bảo vệ bệnh tim-mạch, ung thư và tiểu đường trong các thử nghiệm lớn có đối chứng với giả dược, thậm chí còn gây ra tác dụng phụ bất lợi.

Chỉ nên sử dụng nhiều loại vitamin liều thấp trong trường hợp cần thiết (suy nhược, kém hấp thu…) khi xác định có thể thiếu vitamin.

Tuy nhiên với phụ nữ có thai nên cung cấp thêm a. folic để phòng tránh dị dạng ống thần kinh và một số dị dạng khác; canxi (1000mg/ngày) để đề phòng các bệnh về xương.

V. Rượu:

Rượu uống với lượng vừa phải (5-15g/ngày) làm giảm nguy cơ tim-mạch có thể do rượu làm tăng lượng HDL-cholesterol, nhưng nếu lạm dụng hơn mức trên rượu lại có tác động xấu lên sức khoẻ.

Với phụ nữ có thể dùng hàng ngày bia 340ml (12oz), rượu vang 140ml (5 oz), rượu mạnh 42ml (1,5 oz). Đàn ông có thể dùng gấp đôi lượng trên.

Vận động thể lực

Lợi ích của vận động thể lực trong phòng và chữa bệnh tiểu đường

Kiểm soát đường máu

Vận động thể lực có tác dụng làm giảm đường máu thông qua việc tăng thu nhận đường glucose vào cơ từ 7-20 lần, giảm sản xuất đường từ gan 22% tùy thuộc vào mức độ và thời gian vận động.[Eriksson,J, Taimela S, Koivisto, V.A. Exercise and the Metabolic Syndrome. Diabetologia 1997; 40: 125-135].

Bảo vệ tim-mạch

Tình trạng bệnh tật và tỷ lệ tử vong cao của bệnh nhân tiểu đường bởi sự đóng góp của các bệnh mạch vành tim, tai biến mạch máu não, bệnh mạch máu ngoại biên do có sự gia tăng xơ vữa mạch máu. Sự đề kháng insulin, tăng huyết áp, béo bụng, tăng triglyceride máu, giảm HDL cholesterol, tăng acide béo tự do là những yếu tố nguy cơ liên quan mạnh nhất tới bệnh tim-mạch. Vận động thể lực giúp làm giảm huyết áp tâm thu 11mmHg, giảm huyết áp tâm trương 8mmHg. Những người thường xuyên vận động thể lực làm tăng lượng HDL cholesterol lên 13%, tăng tiêu thụ acide béo tự do từ 27% lên 47%, dù rằng cân nặng chỉ giảm đi chút ít (1kg). [Eriksson,J, Taimela S, Koivisto, V.A. Exercise and the Metabolic Syndrome. Diabetologia 1997; 40: 125-135].

Lợi ích về mặt tâm lý

Vận động thể lực còn có tác dụng làm giảm lo âu, cải thiện trạng thái tâm lý, tăng cảm giác tự trọng và cảm giác thoải mái, tăng chất lượng cuộc sống.

Nguy cơ của vận động thể lực

Tuy nhiên, vận động thể lực không phải lúc nào cũng chỉ đem đến toàn lợi ích, trên thực tế vận động thể lực có thể có những tác động có hại lên hệ tim-mạch, xương khớp... Những tác động có hại này sẽ được hạn chế nếu như bệnh nhân được khám, đánh giá các chống chỉ định trước khi bắt đầu luyện tập thể lực như là một phương pháp điều trị.

Những tác động có hại có thể sảy ra khi luyện tập thể lực:

Lên hệ tim-mạch:

  Rối loạn nhịp tim do thiếu máu cơ tim.

  Huyết áp tăng quá cao hoặc hạ quá thấp khi tập.

  Giảm huyết áp khi thay đổi tư thế cơ thể.

Lên mạch máu nhỏ:

  Chảy máu võng mạc mắt.

  Tăng bài xuất chất đạm qua nước tiểu.

Lên chuyển hóa:

  Làm tăng thêm đường máu và tạo thể ceton.

  Hạ đường máu ở người đang dùng thuốc.

Lên hệ cơ-xương:

  Loét bàn chân.

  Chấn thương cơ và xương.

  Bệnh khớp.

Chấn thương mắt.

Đánh giá bệnh nhân trước khi chỉ định tập thể dục

Trước khi lên kế hoạch tập thể dục, bệnh nhân cần được khám xét đầy đủ nhằm đánh giá các nguy cơ có thể sảy ra cho tim-mạch, mắt, thận, thần kinh, chân.

Đánh giá hệ tim-mạch

Bệnh nhân tiểu đường tập thể dục ở mức độ trung bình (nhịp tim đạt đến mức 55-70% nhịp tim tối đa) và tập ở cường độ cao (nhịp tim đạt mức >70% nhịp tim tối đa) có nguy cơ bệnh tim-mạch nếu có một trong các yếu tố sau:

  Trên 35 tuổi.

  Trên 25 tuổi nhưng đã mắc đái tháo đường (ĐTĐ):

           - ĐTĐ tuýp 2 trên 10 năm.

           - ĐTĐ tuýp 1 trên 15 năm.

  Có yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành.

  Có biểu hiện bệnh vi mạch.

  Có biểu hiện bệnh mạch ngoại biên.

  Có biểu hiện bệnh thần kinh tự động.

Bệnh mạch ngoại biên

Có triệu chứng thiếu máu từng lúc khi đi (đau bắp chân khi đi, khi nghỉ hết đau), cảm giác lạnh bàn chân, không sờ thấy mạch ở chân, teo da và tổ chức dưới da, rụng lông.

Bệnh võng mạc mắt

Nếu có bệnh võng mạc tăng sinh, nguy cơ chảy máu đáy mắt, bong võng mạc rất lớn nếu bệnh nhân thực hiện tập thể thao đòi hỏi nhiều cố gắng và thực hiện trong khoảng thời gian kéo dài.

Bệnh thận do tiểu đường

Tập thể dục mức độ nhẹ đến trung bình không làm nặng lên bệnh lý thận do tiểu đường mặc dù làm tăng tiết chất đạm qua nước tiểu. Không áp dụng chế độ tập thể dục cường độ cao và kéo dài cho người có bệnh lý thận ĐTĐ. [Mogensen.CE. Nephropathy: Early. In: Devlin J, Schneider S, editors. Handbook of Exercise in Diabetes. USA: American Diabetes Association; 2002.trang 433-444].

Đái tháo đường, điều trị đái tháo đường, điều trị bệnh đái tháo đường, các thuốc điều trị đái tháo đường, dinh dưỡng điều trị đái tháo đường, phối hợp thuốc trong điều trị đái tháo đường, chế độ ăn đái tháo đường, chế độ ăn bệnh nhân đái tháo đường, chế độ ăn của đái tháo đường, 	chế độ ăn uống cho người đái tháo đường, thuốc điều trị đái tháo đường, biến chứng đái tháo đường, điều trị biến chứng đái tháo đường, bệnh thận đái tháo đường, bệnh thần kinh đái tháo đường, tăng huyết áp và đái tháo đường, biến chứng cấp tính đái tháo đường, hôn mê tăng đường huyết, insulin, insulin điều trị bệnh đái tháo đường,, tạp chí sức khỏe, khoe24h, tap chi suc khoe, sức khỏe, suc khoe.
Hình mình họa. (Ảnh internet)
Thực hiện vận động thể lực

Lựa chọn hình thức tập

Tùy theo sở thích, mỗi người nên chọn cho mình một vài môn thể thao yêu thích cùng với bạn bè hoặc người thân để tránh nhàm chán. Tập đều các khối cơ trong thời gian đủ dài để tạo điều kiện cho sự giảm cân.

Các môn thể thao nhẹ nhàng như đi bộ, chạy, đi xe đạp, tenis, khiêu vũ... được ưu tiên lựa chọn vì ít nguy cơ sang chấn, tổn thương tim, mắt và ít biến động quá nhiều về đường máu, huyết áp.

Ngược lại các môn thể thao đòi hỏi nhiều cố gắng như cử tạ, đua xe đạp, lặn... tuy có ưu điểm cải thiện chuyển hóa mỡ tốt song đòi hỏi bệnh nhân cần được tư vấn rất kỹ bởi các chuyên gia về thể dục cũng như bác sỹ chuyên khoa ĐTĐ vì những nguy cơ đến sức khỏe đã nêu ở trên.

Tần suất luyện tập

Tần suất luyện tập tùy thuộc vào cường độ và thời gian luyện tập. Nếu mỗi lần tập ít thời gian cần tập nhiều lần trong tuần để có tác dụng. Nếu tập với cường độ cao thì thời gian mỗi lần tập rút ngắn lại để tránh mỏi mệt.  Đường máu được cải thiện sau luyện tập kéo dài từ 12-72giờ, do đó giữa các lần tập không nên cách quãng quá 72 giờ. Thông thường luyện tập rất có hiệu quả nếu tập 5 lần/tuần. Bệnh nhân tiêm insulin nên tập tất cả các ngày trong tuần để tránh biến động liều insulin và lượng thức ăn cần đưa vào. Bệnh nhân béo phì nên tập 6-7 lần tuần để tạo điều kiện cho giảm cân. Cùng một lượng tiêu hao calo, tập nhiều lần với thời gian ngắn có lợi hơn tập ít lần với thời gian dài.

Cường độ tập

Tập cường độ cao làm gia tăng nguy cơ tim-mạch và chấn thương nhất là bệnh nhân tiểu đường thường ở lứa tuổi khá cao. Do vậy chỉ nên đặt mức tập từ nhẹ đến trung bình.

Xác định cường độ tập theo nhịp tim tối đa theo công thức sau:

  Tập nhẹ: nhịp tim đạt 35-54% nhịp tim tối đa.

  Tập trung bình: nhịp tim đạt 55-69% nhịp tim tối đa.

  Tập nặng: nhịp tim đạt 70-89% nhịp tim tối đa.

  Tập rất nặng: nhịp tim đạt  90% nhịp tim tối đa.

Nhịp tim tối đa= 220 –  tuổi (năm).

Ví dụ một người 50 tuổi nhịp tim tối đa là 220 - 50 = 170 lần/phút. Nếu tập ở mức 60% nhịp tim tối đa thì nhịp tim người đó trong lúc tập là 102 lần/phút.

Các hoạt động được coi là vận động nhẹ như: đi bộ, làm vườn nhẹ nhàng, khiêu vũ không có tính thi đấu.

Các vận động có cường độ trung bình như: đi bộ nhanh, đi xe đạp chậm, tenis đôi, chạy, bơi.

Thời gian tập

Cần phải cân bằng lợi ích/nguy cơ khi chỉ định tập thể dục. Thời gian quá ngắn không đạt được hiệu quả cần thiết, trong khi tập nặng có thể có những nguy cơ lên hệ cơ xương và tim mạch... Với đa số mọi người tập 30 phút/ngày vào hầu hết các ngày trong tuần với mức độ tập trung bình là hợp lý nhất. Nếu tập ở mức 55-79% nhịp tim tối đa chỉ nên kéo dài trong vòng 20-60 phút. Thời gian tập càng dài, đường máu càng giảm nhiều.

Giờ tập

Tùy theo sự thuận tiện, nhưng bệnh nhân dùng thuốc hạ đường huyết không nên tập khi đang ở thời điểm thuốc có nồng độ cao trong máu vì dễ gây hạ đường máu (ví dụ 2-4 giờ sau khi tiêm insulin tác dụng nhanh hoặc 4-8 giờ sau khi tiêm insulin tác dụng trung bình). Tập sau ăn 5-8 giờ làm giảm đường máu nhiều hơn tập lúc đói.

Cách tập

Nếu như bệnh nhân mới bắt đầu tập, chỉ nên tập nhẹ nhàng trong vòng 10-15 phút 3 lần/tuần hoặc 5 ngày/tuần để cho hệ tim mạch và cơ bắp thích ứng dần. Tùy vào sức khỏe từng người, tùy vào sức chịu đựng, thời gian tập được tăng dần lên cho đến khi đạt được mục tiêu đề ra.

Mỗi buổi tập phải tăng theo qui trình tập 3 bước:

- Khởi động làm “ấm” cơ thể: tránh cho tim phải tăng nhịp quá đột ngột, bảo vệ hệ cơ xương khỏi bị chấn thương. Khởi động làm ấm cơ thể nhằm đưa nhịp tim tăng lên khoảng 20 nhịp so với nhịp tim khi nghỉ.

- Giai đoạn vận động tích cực: nhịp tim tăng dần lên theo mục tiêu (từ 55-69% mức nhịp tim tối đa).

- Giai đoạn làm “nguội” cơ thể: diễn ra 5-10 phút trước khi nghỉ hoàn toàn, nhịp tim trên mức nhịp tim khi nghỉ từ 10-15 nhịp. Vận động nhẹ nhàng trước khi nghỉ tránh cho tụt huyết áp sau tập.

Tự giám sát đường máu và ceton niệu giúp ích rất nhiều cho tập thể dục được an toàn.

Tránh tập thể dục nếu:

  - Đường máu lúc đói >13,9mmol/l (>250mg/dl).

  - Có ceton trong nước tiểu.

Thận trọng nếu:

  - Đường máu >16,7mmol/l (>300mg/dl).

  - Không có ceton trong nước tiểu.

Ăn ít chất bột đường nếu đường máu <5,5mmol/l (<100mg/dl).

Đo đường máu trước và sau khi tập có lợi ích:

Xác định sự thay đổi liều insulin và lượng thức ăn cần thiết.

Nhận biết được sự thay đổi đường huyết do các điều kiện vận động khác nhau đem lại.

Lưu ý:

Tập thể dục nếu không được thực hiện đúng cách, đúng thời gian có thể dẫn đến tác động xấu cho sức khỏe vì vậy bác sỹ và bệnh nhân cần nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi lên kế hoạch tập.

Những người quá già, có bệnh nặng (suy tim, suy thận, suy hô hấp...), không có kiến thức điều chỉnh đường máu, ăn uống theo sự thay đổi của vận động thể lực không nên tập thể dục. Tuy nhiên những người này không nên để nằm lâu, mỗi khi có điều kiện nên để ở tư thế ngồi.

Người tập thể dục cần biết rằng những tác động có lợi lên chuyển hóa đường như giảm đường máu, giảm đề kháng insulin chỉ thể hiện rõ sau nhiều tuần tập, khối cơ bắp phát triển sau 6 tuần tập, nhưng hệ tim mạch cần tới 10-12 tuần để thích ứng. Người già và người béo phì cần khoảng thời gian lâu hơn. Và một điều quan trọng khác tất cả lợi ích do tập thể dục đem lại sẽ mất ngay lập tức khi ngừng tập.

Thuốc uống điều trị tiểu đường

Thuốc làm chậm hấp thu đường glucose: ức chế hấp thu đường, làm giảm đường máu sau khi ăn.

o Ưu điểm: không gây hạ đường huyết. Có lợi khi chế độ ăn có nhiều tinh bột.

o Bất lợi: giảm đường máu không nhiều, giới hạn vào sau bữa ăn.

o Chỉ định: tăng nhẹ đường máu sau ăn với điều trị bằng chế độ ăn.

- Acarbose (Glucobay 50/100mg)  50 –  200mg x 3 lần /ngày.

- Voglibose (Basen 0,2mg/0,3mg) 0,2mg-0,3mg x 3 lần /ngày.

o Tác dụng phụ: cảm giác đầy bụng, buồn nôn, chướng bụng, đầy hơi, cảm giác mót đi ngoài, ỉa chảy.

Bắt đầu với liều nhỏ, tăng dần liều tuỳ theo tác dụng phụ. Cả hai thuốc trên cần phải uống ngay trước bữa ăn.

Nhóm Biguanide: ức chế hấp thu glucose và tân tạo đường, tạo điều kiện cho việc thâm nhập glucose vào tế bào cơ.

o Ưu điểm: không có nguy cơ hạ đường huyết, do vậy không gây kích thích ăn nhiều.

o Nhược điểm : tác dụng giảm đường máu kém hơn nhóm sulfamid hạ đường máu, có chống chỉ định chặt chẽ, chỉ có metformin được dùng để điều trị hiện nay. Thận trọng với người trên 70 tuổi.

o Liều lượng: Bắt đầu với liều 500mg trong bữa ăn tối, tăng dần liều sau 1-2 tuần, liều tối đa 2500mg/ngày.

o Các thuốc hiện có trên thị trường:

- Glucophage viên 500mg/850mg/1000mg.

- Glyfor viên 500mg/850mg.

- Daimit viên 500mg.

- Siofor viên 500/850mg.

o Tác dụng phụ: rối loạn tiêu hoá, nhiễm toan lactic nếu không lưu ý đến chống chỉ định.

o Chống chỉ định: ĐTĐ type 1, nhiễm toan ceton, thiếu oxy tổ chức   ngoại biên, nhiễm khuẩn, suy thận (creatinine máu > 150µmol/l = 1,7mg/dl), rối loạn chức năng gan, lạm dụng rượu, có thai, chế độ ăn ít calo (để giảm cân), ngay trước và sau phẫu thuật.

Sulfamid hạ đường huyết làm tăng tiết insulin nếu chức năng còn lại của tế bào bêta tụy còn được duy trì.

o Ưu điểm: giảm đường máu mạnh hơn các loại thuốc uống khác.

o Nhược điểm: gây hạ đường máu (nhất là ở bệnh nhân gầy, có nhiều bệnh lý phối hợp và có tuổi) do vậy thuốc cần phải tăng liều từ từ (từ 7-15 ngày điều chỉnh liều/lần); thuốc làm tăng cảm giác thèm ăn do đó thường gây tăng cân. Cần phải lưu ý đến tương tác với nhiều thuốc khác.

o Liều lượng tăng dần sau khi đã kiểm soát chặt chẽ đường máu. Khi dùng liều cao : 2/3 liều vào buổi sáng ; 1/3 vào buổi chiều. Uống trước bữa ăn.

o Tác dụng phụ: hạ đường huyết, rối loạn tiêu hoá, dị ứng, kém dung nạp với rượu, tăng men gan, thay đổi công thức máu (giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu).

o Chống chỉ định: ĐTĐ type 1, nhiễm toan ceton, suy gan và suy thận nặng, có thai, dị ứng với sulfonyl –  ure.

Thuốc kích thích tiết insulin không thuộc nhóm sulfamid

o Ưu điểm: tác dụng nhanh, làm giảm đường máu sau khi ăn, ít bị hạ đường huyết.

o Nhược điểm: làm giảm HbA1c tương đương nhóm sulfamide trong khi giá thành điều trị đắt hơn.

o Thuốc hiện có: repaglinide (Novonorm) viên 0,5/2mg. Liều khởi đầu 0,5mg x 3 lần, uống trước 3 bữa ăn, liều tối đa 16mg/ngày.

Nhóm thiazolidinediones: cải thiện việc kiểm soát đường huyết bằng cách tăng sự nhạy cảm với insuline tại các cơ quan đích, thuốc không làm tăng tiết insuline.

o Ưu điểm: trực tiếp làm giảm đề kháng insuline, có thể uống 1 lần trong ngày và không phụ thuộc vào bữa ăn; có thể phối hợp với sulfamide, metformine hoặc đơn trị liệu.

o Nhược điểm: đường máu không giảm nhanh và giá thành điều trị đắt.

o Liều lượng:

- Rosiglitazone maleate (Avandia) 4-8mg/ngày.

- Pioglitazone (Pioz, Pionorm) 15-45mg/ngày.

o Chống chỉ định: mẫn cảm với thuốc và thành phần của thuốc; có thai và cho con bú; bệnh gan (lâm sàng, xét nghiệm men gan tăng gấp 2,5 lần giá trị bình thường), suy tim.

Điều trị biến chứng bệnh tiểu đường

Biến chứng mạn tính

Các bệnh tăng huyết áp, tắc mạch máu ở chi dưới, nhồi máu cơ tim, rối loạn mỡ máu…không phải là biến chứng trực tiếp của bệnh ĐTĐ song lại là những bệnh hay gặp ở người ĐTĐ và làm cho tiên lượng của bệnh ĐTĐ trở nên xấu hơn nhiều lần ( khoảng 80% số người mắc ĐTĐ ở các nước phát triển tử vong vì các bệnh tim-mạch).

Biến chứng đặc trưng của bệnh ĐTĐ bao gồm 1) bệnh lý võng mạc do ĐTĐ; 2) bệnh cầu thận do ĐTĐ; 3) bệnh thần kinh do ĐTĐ là những bệnh lý liên quan đến tổn thương mạch máu nhỏ.

Bệnh võng mạc do tiểu đường:

Bệnh võng mạc do tiểu đường là nguyên nhân gây mù hàng đầu ở người lớn từ 20-74 tuổi. Tại thời điểm mới được chẩn đoán đã có từ 10-20% số người mắc ĐTĐ týp 2 có bệnh lý võng mạc do ĐTĐ. Sau 20 năm mắc bệnh, hầu hết bệnh nhân ĐTĐ type 1 và khoảng 60% bệnh nhân ĐTĐ týp 2 có bệnh lý võng mạc do ĐTĐ. [Donald S. Fong, MD, MPH, (2003), “Diabetic Retinopathy”, Diabetes Care, Volume 26, Supplement 1, 99-101.]

Điều trị sớm và tích cực bệnh tiểu đường có thể giảm được nguy cơ bệnh lý võng mạc do ĐTĐ từ 62-86% ở bệnh nhân tiểu đường type 1 và giảm được 25% biến chứng mạch máu nhỏ ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2. [Donald S. Fong, MD, MPH, (2003), “Diabetic Retinopathy”, Diabetes Care, Volume 26, Supplement 1, 99-101.]

Bệnh không có triệu chứng ở giai đoạn đầu, ngay cả khi thị lực vẫn còn bình thường hoặc không có biểu hiện gì đặc biệt khi soi gương không có nghĩa là mắt vẫn còn “bình thường”, do vậy các khám nghiệm mắt cần phải thực hiện đều đặn (6-12 tháng/lần). Những rối loạn thị lực đầu tiên biểu hiện bằng nhìn mờ hoặc thấy “ruồi bay”. Phân loại theo các giai đoạn:

- Giai đoạn đầu: vi phình mạch, phù gai, xuất tiết nhẹ. ở giai đoạn này thị lực hầu như không bị ảnh hưởng.

- Bệnh võng mạc tiền tăng sinh: vùng thiếu máu, chảy máu lan toả, xuất tiết mạch, ổ như “đám bông”.

- Bệnh võng mạc tăng sinh: tân tạo mạch máu, chảy máu dịch kính, bong võng mạc. Thị lực giảm nhanh chóng, nếu xuất huyết nhiều lần có thể dẫn đến mù hoàn toàn. Trong vòng 5 năm sau khi phát hiện có bệnh võng mạc tăng sinh: 43% bệnh nhân ĐTĐ type 1 và 60% bệnh nhân ĐTĐ týp 2 sẽ bị mù.

Điều trị bệnh lý võng mạc:

Quản lý đường máu và mỡ máu tốt (HbA1c < 6,5%) làm chậm xuất hiện tổn thương võng mạc do tiểu đường. Với người đường máu tăng cao lâu ngày và có biểu hiện bệnh lý võng mạc phải đưa đường máu về bình thường một cách từ từ (sau 1-2 tháng), nếu làm giảm đường máu quá nhanh sẽ làm nặng lên bệnh võng mạc do ĐTĐ.

Điều trị tăng huyết áp tích cực <130/85mmHg làm giảm nguy cơ điều trị laser đáy mắt tới 34%.

Các thuốc chống kết tập tiểu cầu (Aspirin, Dipyridamole, Ticlodipine) không có tác dụng phòng và chữa bệnh võng mạc do tiểu đường nhưng cũng không làm tăng  nguy cơ xuất huyết võng mạc.

Quang đông bằng laser, phẫu thuật cắt dịch kính là những phương pháp thực sự có hiệu quả. Quang đông bằng laser có thể làm giảm nguy cơ mất thị lực trung bình tới 50%. Khi khám mắt cho bệnh nhân nếu có phù hoàng điểm, bệnh võng mạc tiền tăng sinh nặng, bệnh võng mạc tăng sinh cần phải chuyển bệnh nhân đến trung tâm mắt có đủ kinh nghiệm và trang thiết bị cần thiết ngay vì điều trị laser đáy mắt sớm làm giảm được 50% nguy cơ mất thị lực nặng.

Các tổn  thương khác ở mắt:

Đục thuỷ tinh thể

Đối với ĐTĐ type 1, đục thuỷ tinh thể có thể gặp 4-10% ở người trẻ tuổi: đục mờ dưới vỏ trong những giai đoạn đường máu tăng cao. Dạng đục thuỷ tinh thể này cũng có thể gặp trong bệnh lý tuyến cận giáp, xơ cứng bì, nhược cơ, do vậy khái niệm đục thuỷ tinh thể do tiểu đường vẫn còn được tranh luận thêm.

Khi bị nhiễm toan ceton, một số người có biểu hiện đục mờ thuỷ tinh thể thoáng qua và tự hết khi đường máu trở về bình thường, dạng đục thuỷ tinh thể này có thể do lắng đọng sorbitol.

Các dạng đục thuỷ tinh thể khác không có biểu hiện gì đặc hiệu cho bệnh tiểu đường nhưng thường gặp hơn và sớm hơn so với người không mắc ĐTĐ. Nếu không mắc bệnh lý võng mạc do tiểu đường, đục thuỷ tinh thể có thể được mổ và thay thế tương tự như với người không mắc tiểu đường, nhất là với kỹ thuật hiện đại ngày nay. Tuy nhiên đường máu cần được ổn định tốt (từ 6-10mmol/l).

Người tiểu đường có thể nhận thấy sự thay đổi thị lực cùng với sự lên xuống của đường máu. Khi đường máu tăng cao người bệnh có biểu hiện cận thị, khi đường máu hạ thấp người bệnh chuyển sang viễn thị do sự thay đổi áp lực thẩm thấu trong mắt, chính vì vậy người mới được chẩn đoán tiểu đường thường hay gặp khó khăn khi đọc ở giai đoạn mới điều trị. Sự biến đổi thị lực này chỉ gây khó chịu cho bệnh nhân nhưng lành tính, khi đường máu ổn định tốt sức nhìn sẽ trở về bình thường.

Tăng nhãn áp

Tăng nhãn áp mạn tính  thông thường

Tăng nhãn áp mạn tính thông thường gặp với tần suất cao hơn người không mắc tiểu đường, do vậy người tiểu đường cần được đo nhãn áp thường xuyên hơn và ngược lại, những người bị tăng nhãn áp cần được thử  máu để chẩn đoán có bị tiểu đường
hay không. Người tiểu đường bị tăng nhãn áp thông thường cần được kiểm soát chặt chẽ  nhãn áp.

Tăng nhãn áp do tân mạch

Tăng nhãn áp do tân mạch là một bệnh lý nặng có tiên lượng xấu đến thị lực, căn nguyên do bệnh võng mạc tăng sinh nặng ở bệnh nhân tiểu đường.  Việc điều trị loại tăng nhãn áp này còn có nhiều khó khăn và có tính chất tạm thời, điều cốt yếu là phòng ngừa tân mạch phát triển bằng cách chiếu tia laser trực tiếp vào nơi tổn thương hoặc tia laser vào toàn bộ đáy mắt. Điều trị nội khoa có thể có tác dụng cho một vài trường hợp.     

Tổn thương dây thần kinh và cơ mắt

Dây thần kinh số 3,4,6 có thể bị tổn thương, trong đó thường gặp nhất là dây 6 và dây 3. Triệu chứng thường khởi phát đột ngột, hay đi kèm theo đau một bên ổ mắt hoặc vùng trán và liệt cơ vận nhãn tương ứng với dây thần kinh bị tổn thương. Bệnh nhân thường có triệu chứng nhìn đôi trừ khi có sụp mi mắt hoàn toàn. Tổn thương dây thần kinh mắt thường sảy ra ở bệnh nhân đã mắc bệnh lâu năm, nhưng đôi khi gặp cả trên người mới mắc bệnh. Nguyên nhân có thể do tắc không hoàn toàn mạch máu nuôi dưỡng dây thần kinh mắt liên quan.

Trong đa số trường hợp liệt cơ vận nhãn là lành tính và có thể khỏi sau vài tháng nhưng bệnh có thể tái phát trên chính dây thần kinh đó hoặc trên các dây thần kinh sọ khác.

Bệnh thận tiểu đường:

Bệnh thận do tiểu đường được biểu hiện bằng sự có mặt của protein trong nước tiểu. Khoảng 20-30% số bệnh nhân tiểu đường có bệnh lý thận do tiểu đường.

Bệnh thận do tiểu đường là nguyên nhân suy thận giai đoạn cuối hàng đầu ở các nước công nghiệp phát triển ở Mỹ và châu âu, vì những nguyên nhân cơ bản sau 1) tỷ lệ người tiểu đường gia tăng; 2) người tiểu đường ngày nay có khả năng sống lâu hơn. Suy thận giai đoạn cuối do ĐTĐ chiếm tới 40% số trường hợp mới mắc hàng năm của Mỹ và tiêu tốn tới 15,6 tỷ dollar cho chăm sóc y tế tại nước này.

Với người ĐTĐ type 1, 10 năm sau khi biểu hiện bệnh thận rõ ràng (có macroalbumin trong nước tiểu) khoảng 50% tiến triển đến suy thận giai đoạn cuối và sau 20 năm sẽ vào khoảng 75% số bệnh nhân trên cần chạy thận lọc máu chu kỳ.

Nhiều bệnh nhân ĐTĐ týp 2 biểu hiện bệnh thận rất sớm sau khi được chẩn đoán chứng tỏ ĐTĐ đã tồn tại từ nhiều năm trước khi bệnh được phát hiện. Nếu không được điều trị đặc hiệu, khoảng 20-40% bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 có vi đạm niệu (microalbumin) sẽ xuất hiện bệnh thận rõ ràng, song sau 20 năm chỉ có khoảng 20% số bệnh nhân này tiến triển đến suy thận giai đoạn cuối. Dù khả năng diễn biến đến suy thận giai đoạn cuối của bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 ít hơn so với ĐTĐ tuýp 1, song số lượng bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 chiếm tỷ lệ rất lớn nên thực sự số bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối chủ yếu là bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2.

Nguyên nhân thường gặp gây tử vong bệnh nhân ĐTĐ tuýp 1: là hệ quả của bệnh vi mạch tiểu đường (xơ hoá cầu thận Kimmelstiel –  Wilson) nhưng đồng thời cũng là do nhiễm khuẩn tái phát đường tiết niệu và viêm thận kẽ. Phân loại bệnh lý thận do tiểu đường được chia thành 5 giai đoạn sau:

Bảng 7: Phân loại giai đoạn bệnh thận tiểu đường (theo Mogensen)

Diễn biến tự nhiên của bệnh thận do tiểu đường

Giai đoạn 1

  Tăng đường máu làm giãn mạch, tăng mức lọc cầu thận.

  Thận phì đại do tăng mức lọc cầu thận.

Giai đoạn 2

  Thận tiếp tục phì đại do tăng mức lọc cầu thận, giai đoạn này không có triệu chứng.

Giai đoạn 3

  Có microalbumin trong nước tiểu, tăng huyết áp.

  Nếu không điều trị đặc hiệu: 20-40% tiến triển đến bệnh thận rõ (có macroalbumin trong nước tiểu); 50% bệnh nhân có microalbumin có thể không tiến triển xấu.

Giai đoạn 4

  Có macroalbumin trong nước tiểu. Mức lọc cầu thận giảm dần ước lượng khoảng 0,1-2,4ml/phút/tháng. Điều trị tốt trong giai đoạn này có thể làm chậm tiến triển đến suy thận, nhưng không làm cho chức năng thận trở về bình thường.

Giai đoạn 5

  Sau 20 năm có bệnh thận rõ, chỉ có khoảng 20% bệnh nhân ĐTĐ týp 2 tiến triển đến suy thận giai đoạn cuối (cần chạy thận nhân tạo hoặc ghép thận).

Xác định có microalbumin trong nước tiểu dựa trên 3 phương pháp sau:

* Định lượng albumin/creatinin trên mẫu nước tiểu ngẫu nhiên:

Bình thường <30mg/g.

Microalbumin niệu 30-299mg/g.

Macroalbumin >= 300mg/g.

* Định lượng albumin niệu/24giờ:

Bình thường < 30mg/24giờ.

Microalbumin niệu  30-299mg/24giờ.

Macroalbumin >= 300mg/24giờ.

* Định lượng albumin niệu theo thời gian (lấy nước tiểu 4giờ hoặc lấy qua đêm):

Bình thường < 20mg/ phút.

Microalbumin niệu 20-199mg/ phút.

Macroalbumin >= 200mg/ phút.

Xác định bệnh nhân có bệnh thận do ĐTĐ nếu 2/3 lần định lượng trong vòng 3-6 tháng có kết quả bất thường (vì mức bài tiết albumin có thể thay đổi tới 40% từ ngày này qua ngày khác do đó cần làm xét nghiệm nhiều lần trước khi kết luận.[TK: Pathophysiology of Diabetic Nephropathy. In Diabetes Mellitus: A fundamental and clinical text, 2nd, xuất bản bởi Dia, M. Lippincot, William and Wilkins,2000, trang 890].

Nếu chưa có điều kiện định lượng albumin niệu bằng sinh hóa, có thể dùng test thử nhanh (Micral test) cũng cho kết quả khá đặc hiệu (96%) và đáng tin cậy (94%). Vì lượng bài tiết albumin niệu thay đổi khá nhiều từ ngày này qua ngày khác, do vậy xác định có albumin niệu khi có ít nhất 2 trong 3 lần thử >= 20mg/l (với test thử Micral test), sau đó xác định lại bằng định lượng sinh hóa với mẫu nước tiểu 24 giờ.

Tránh định lượng albumin niệu khi có các yếu tố làm tăng bài xuất albumin như:

- Đường máu đang tăng cao.

- Sau tập thể dục (trong vòng 24 giờ).

- Nhiễm khuẩn đường tiết niệu. Có máu trong nước tiểu.

- Tăng huyết áp  nhiều.

- Suy tim sung huyết.

- Đang sốt cấp tính.

- Đang trong giai đoạn nhiễm toan ceton.

Điều trị và phòng tránh bệnh thận do tiểu đường

Dựa vào những nghiên cứu qua nhiều năm liên tục, các chuyên gia về ĐTĐ khuyến cáo các bác sỹ và bệnh nhân cần phải:

1- Điều chỉnh đường máu tốt (HbA1c < 6,5%). Nếu giảm 1% HbA1c sẽ giảm được 37% biến chứng mạch máu nhỏ.

2- Giữ cho huyết áp < 120/75mmHg. Không tự ý ngừng thuốc hạ huyết áp khi huyết áp trở về bình thường nếu không có ý kiến của thày thuốc.

3- Khi có microalbumin trong nước tiểu nếu dùng thuốc ức chế men chuyển angiotensin hoặc thuốc ức chế thụ thể angiotensin sẽ giúp cho những người có bệnh thận giai đoạn đầu chậm tiến triển đến bệnh thận rõ ràng và suy thận (xem thêm phần thuốc điều trị tăng huyết áp).

4- Chế độ ăn hạn chế chất đạm 0,8g/kg/ngày, giảm muối.

5- Phòng tránh và điều trị tốt nhiễm khuẩn đường tiết niệu.

Bệnh thần kinh tiểu đường

Bệnh thần kinh do tiểu đường gặp khá phổ biến, ước tính chừng 30% bệnh nhân có biểu hiện biến chứng này. 7,5 % bệnh nhân ĐTĐ mới được chẩn đoán đã có bệnh thần kinh do ĐTĐ, sau 25 năm mắc bệnh có khoảng 50% số bệnh nhân ĐTĐ có biểu hiện bệnh lý thần kinh do ĐTĐ. [Perlemuter, (2000), “Complications Neurologiques”, Diabète et maladies métaboliques, NXB Masson, 221.]

Bệnh thần kinh do tiểu đường biểu hiện đa dạng thường được phân chia thành 5 hội chứng lớn sau:

Bệnh nhiều dây thần kinh: tổn thương không đối xứng, lan tỏa nhiều dây thần kinh ngoại vi biểu hiện đau và rối loạn cảm giác.

Bệnh đơn dây thần kinh: tổn thương duy nhất một dây thần kinh hoặc nhánh thần kinh đó.

Bệnh thần kinh vận động gốc chi: do thiếu máu dẫn đến thoái hoá sợi trục và mất myelin nặng từng đoạn đám rối và rễ thần kinh thắt lưng cùng.

Viêm đa dây thần kinh: tổn thương đồng thời hoặc kế tiếp nhau nhiều dây thần kinh có tính chất đối xứng biểu hiện bằng:

  Cảm giác đau thường tăng lên về đêm ở chân, tay hoặc cá biệt ở vùng bụng-ngực. Cảm giác đau như cắt, như bị bỏng, đau nhiều khi gây nên chứng trầm cảm phản ứng và chán ăn dẫn đến suy mòn dễ nhầm với ung thư. Điều trị bằng tiêm insulin và thuốc chống trầm cảm có tác dụng tốt cho thể tổn thương này.

  Viêm đa dây thần kinh có thể biểu hiện bằng rối loạn cảm giác như cảm giác kiến bò, cảm giác ngứa, cảm giác lạnh chi hoặc cảm giác nóng chi.

  Khám xét có thể thấy bệnh nhân giảm hoặc mất cảm giác hoặc ngược lại tăng cảm giác đau dù chỉ cọ xát nhẹ với đường chỉ may trên quần áo. Giảm hoặc mất cảm giác rung (khám bằng âm thoa), giảm hoặc mất cảm giác áp lực (khám bằng sợi dây nylon chuẩn), mất phản xạ tư thế khiến bệnh nhân khó giữ  được tư thế đứng, đi lại khó khăn (dáng đi loạng choạng). Tổn thương thần kinh do tiểu đường cũng có thể gây nên bệnh teo cơ nhất là ở các khoảng giữa cơ bàn tay, chân. 

Bệnh thần kinh thực vật: biểu hiện rối loạn hoạt động các cơ quan như hệ sinh dục (liệt dương...), hệ tiết niệu (liệt bàng quang...), hệ tiêu hóa (liệt dạ dày, đi ngoài...), rối loạn vận mạch và tiết mồ hôi, tổn thương da-xương (loét bàn chân, viêm xương...).

+ Mắt: rối loạn điều tiết đồng tử.

+ Tim –  mạch: mạch nhanh khi nghỉ ngơi, giảm thay đổi nhịp tim, hạ huyết áp tư thế, nhồi máu cơ tim không đau.

+ Đường tiêu hoá: kém ăn, cảm giác ăn chóng no, nôn, cảm giác khó chịu vùng thượng vị, liệt dạ dày (cảm giác đầy) chậm tiêu hóa thức ăn nhiều khi gây hạ đường huyết sau ăn,  táo bón và đi ngoài phân lỏng xen kẽ nhau.

+ Hệ tiết niệu –  sinh dục: khó đái, bàng quang mất trương lực (sau tiểu tiện vẫn còn cảm giác có nước tiểu trong bàng quang), giãn bàng quang  ứ nước tiểu tạo điều kiện cho nhiễn khuẩn đường tiết niệu; giảm cương dương vật.

+ Da: rối loạn tiết mồ hôi (da khô, teo da: dùng mỡ làm ẩm da như mỡ Ellgy hoặc Bridge Heel Baum).

+ Rối loạn tiết hormon đối kháng trong trường hợp hạ đường huyết: các triệu chứng như vã mồ hôi; tim đập nhanh; cảm giác đói… thường mờ nhạt và đường máu tăng lên chậm.

Điều trị bệnh thần kinh tiểu đường: điều trị triệu chứng, khi dị cảm đau dùng carbamazepin (200-400mg/ngày) hoặc thuốc chống trầm cảm cấu trúc 3 vòng (amitriptyline 12,5-50mg/ngày) có thể có tác dụng trong 50% trường hợp. Điều quan trọng là giữ đường máu ổn định tốt có thể giảm được 50% nguy cơ mắc biến chứng thần kinh do tiểu đường.

Đái tháo đường, điều trị đái tháo đường, điều trị bệnh đái tháo đường, các thuốc điều trị đái tháo đường, dinh dưỡng điều trị đái tháo đường, phối hợp thuốc trong điều trị đái tháo đường, chế độ ăn đái tháo đường, chế độ ăn bệnh nhân đái tháo đường, chế độ ăn của đái tháo đường, 	chế độ ăn uống cho người đái tháo đường, thuốc điều trị đái tháo đường, biến chứng đái tháo đường, điều trị biến chứng đái tháo đường, bệnh thận đái tháo đường, bệnh thần kinh đái tháo đường, tăng huyết áp và đái tháo đường, biến chứng cấp tính đái tháo đường, hôn mê tăng đường huyết, insulin, insulin điều trị bệnh đái tháo đường,, tạp chí sức khỏe, khoe24h, tap chi suc khoe, sức khỏe, suc khoe.
Hình mình họa. (Ảnh internet)
Bệnh lý bàn chân tiểu đường: về phương diện bệnh lý, đây là hệ quả phối hợp của bệnh lý mạch máu và hoặc bệnh lý thần kinh với khuynh hướng nhiễm khuẩn. Về điều trị cần phải phân tách nguyên nhân là do thần kinh hay do thiếu máu.

 

Bảng 8: Chẩn đoán phân biệt nguyên nhân tổn thương chân do tiểu đường

- Phòng bệnh: Cân bằng đường máu tốt, giày dép thích hợp, thậm chí đi giày chỉnh hình, tránh tổn thương và bị chèn ép, cần chuyên gia chuyên chăm sóc bàn chân (cắt móng chân, gọt mỏng chai chân...) theo dõi bàn chân thường xuyên.

- Điều trị: (cần có đủ kinh nghiệm)

+ Tổn thương chủ yếu do thần kinh : giải phóng hoàn toàn điểm tì đè (giầy chỉnh hình); nếu có nhiễm khuẩn: nghỉ ngơi, kháng sinh, cắt lọc tổ chức hoại tử, gọt mỏng chai chân, có khi phải cắt cụt một cách tiết kiệm xương bị tổn thương.

+ Tổn thương chủ yếu do thiếu máu: tránh mất nước, thuốc chống kết tập tiểu cầu (Aspirin 75-325mg/ngày- viên Hanmi Aspirin 100mg); nong mạch qua da, mở nạo vét mạch; tạo cầu nối. Cắt cụt chi khi không còn giải pháp nào khác.

Tăng huyết áp (THA) và tiểu đường

Có khoảng 20-60% bệnh nhân tiểu đường mắc thêm cả tăng huyết áp. Tăng huyết áp, béo bụng, rối loạn mỡ máu và kháng insulin rất thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2. Tiểu đường làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh mạch máu lớn và nhỏ như bệnh mạch vành, tai biến mạch máu não, tắc mạch chi, bệnh võng mạc mắt, bệnh thận, bệnh thần kinh.

Chẩn đoán tăng huyết áp khi huyết áp tối đa>= 140mmHg hoặc/và huyết áp tối thiểu>= 90mmHg. Tuy những người có huyết áp tối đa 120-139mmHg hoặc huyết áp tối thiểu 80-89mmHg không phải là những người có huyết áp bình thường theo tiêu chuẩn chẩn đoán mới, nhưng theo thời gian phần lớn những người này sẽ tiến triển tới tăng huyết áp thực sự và điều quan trọng khác nữa là theo thống kê nguy cơ bệnh mạch máu gia tăng ở mức huyết áp rất thấp (>115/75mmHg), cứ tăng mỗi 20/10mmHg so với mức trên nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch sẽ tăng gấp đôi. Do vậy điều trị tăng huyết áp tích cực ở người ĐTĐ phải được coi là mục tiêu ưu tiên số 1.

Nếu huyết áp tối đa giảm 10mmHg sẽ giảm được 12% nguy cơ các biến chứng liên quan tới bệnh ĐTĐ, giảm 15% nguy cơ tử vong do ĐTĐ, giảm 11% nguy cơ bị nhồi máu cơ tim, giảm 13% nguy cơ biến chứng vi mạch. [Tight blood pressure control and risk of macrovascular complications in týp 2 diabetes: UKPDS 38. United Kingdom Prospective Diabetes Study. BMJ 1998; 317:703-713].

Nghiên cứu trên 1501 người tăng huyếp áp người ta nhận thấy: tai biến mạch máu não giảm 30% ở nhóm nghiên cứu với mục tiêu huyết áp tối thiểu < 80 mmHg so với nhóm nghiên cứu có huyết áp tối thiểu <90 mmHg. [Effects of intensive bood pressure lowering and low dose aspirin in patient with hypertetion: principal results of the hypertention Optimal Treatement (HOT) randomised trial. Lancet 1998; 351:1755-1762].

Đái tháo đường, điều trị đái tháo đường, điều trị bệnh đái tháo đường, các thuốc điều trị đái tháo đường, dinh dưỡng điều trị đái tháo đường, phối hợp thuốc trong điều trị đái tháo đường, chế độ ăn đái tháo đường, chế độ ăn bệnh nhân đái tháo đường, chế độ ăn của đái tháo đường, 	chế độ ăn uống cho người đái tháo đường, thuốc điều trị đái tháo đường, biến chứng đái tháo đường, điều trị biến chứng đái tháo đường, bệnh thận đái tháo đường, bệnh thần kinh đái tháo đường, tăng huyết áp và đái tháo đường, biến chứng cấp tính đái tháo đường, hôn mê tăng đường huyết, insulin, insulin điều trị bệnh đái tháo đường,, tạp chí sức khỏe, khoe24h, tap chi suc khoe, sức khỏe, suc khoe.
Hình mình họa. (Ảnh internet)
Điều trị tăng huyết áp: cơ bản dựa vào 2 biện pháp: không dùng thuốc và thuốc hạ huyết áp.

 

1) Biện pháp không dùng thuốc hay còn gọi là biện pháp điều chỉnh lối sống: rất có giá trị trong việc phòng ngừa THA và làm giảm huyết áp không tốn kém và không có tác dụng phụ.

Giảm cân

Quá cân và tích tụ mỡ ở bụng (béo bụng) thường làm gia tăng nguy cơ mắc tăng huyếp áp, rối loạn mỡ máu, tiểu đường và tử vong do bệnh tim mạch. Giảm vài cân (4,5kg) sẽ giảm huyết áp và nguy cơ mắc bệnh tim mạch ở những người thừa cân và béo phì.

Thừa cân khi BMI  23-24,9 kg/m2.

Béo phì                  >= 25 kg/m2.

 Độ 1                        >=25-29,9 kg/m2.

 Độ 2                       >= 30 kg/m2.

[BMI = cân nặng (kg)/chiều cao2 (m2)]

Béo bụng khi vòng bụng >90cm ở nam giới, >80cm ở nữ giới.

Uống rượu vừa phải

Rượu uống với lượng vừa phải (5-15g/ngày) làm giảm nguy cơ tim-mạch có thể do rượu làm tăng lượng HDL-cholesterol, nhưng nếu lạm dụng hơn mức trên rượu lại có tác động xấu lên sức khoẻ.

Với phụ nữ có thể dùng hàng ngày bia 340ml (12oz), rượu vang 140ml (5 oz), rượu mạnh 42ml (1,5 oz). Đàn ông có thể dùng gấp đôi lượng trên.

Với những người uống nhiều rượu, khi mới cai rượu: huyết áp có thể tăng trong vài ngày và có những biểu hiện cai rượu (run tay, vã mồ hôi...) do đó cần có biện pháp y tế thích hợp (dùng thuốc an thần kinh nhóm benzodiazepin, vitamin B1 liều cao).

Vận động thể lực

Người có lối sống tĩnh tại có nguy cơ mắc THA hơn người hay vận động 20-50%.

Với phần lớn mọi người, đi bộ nhanh 30-45 phút /ngày vào hầu hết các ngày trong tuần được coi là an toàn thích hợp. Với người có bệnh tim mạch và các bệnh mạn tính khác nên được bác sỹ cho chỉ định tập thể dục sau khi khám xét đánh giá (xem phần vận động thể lực trang...).

Hạn chế muối Natri

Hạn chế muối natri có những lợi ích sau:

  Giảm lượng thuốc hạ huyết áp cần uống.

  Giảm lượng kali cần thiết khi sử dụng thuốc lợi tiểu.

  Làm chậm quá trình dày thất trái.

  Hạn chế hình thành sỏi thận và giảm mất xương.

Lượng muối ăn chỉ nên hạn chế <6g/ngày. Chú ý các đồ ăn chế biến sẵn thường có nhiều muối, “mì chính” thực chất là một loại axit amin có chứa natri do đó không nên ăn nhiều.

Chế độ ăn giàu kali

Chế độ ăn giàu kali cũng được coi là có lợi cho người THA, đặc biệt những bệnh nhân dùng thuốc lợi tiểu thải kali.

Khuyến cáo nên cho bệnh nhân từ 2-5g kali/ngày là thích hợp. ăn nhiều rau, quả cung cấp nhiều kali.

Một số bệnh nhân phải lưu ý có thể tăng kali máu như người suy thận, dùng nhóm thuốc ức chế men chuyển dạng angiotensin hoặc ức chế thụ thể angiotensin.

Calcium và magnesium

ăn giảm calcium có liên quan tới tỷ lệ mắc THA, song chưa có bằng chứng có lợi khi tăng lượng calcium và magnesium cho người mắc THA.

Một số yếu tố dinh dưỡng khác

Chất béo

ăn với lượng hợp lý, nhất là với người có rối loạn mỡ máu. Tuy nhiên không được cắt bỏ mỡ động vật một cách triệt để vì cơ thể thực sự cần đến mỡ động vật như là một chất có hoạt tính sinh học, có vai trò xây dựng cơ thể, giúp hấp thu các vitamin tan trong mỡ (Vitamin A,D,E,K).

Một người nặng 55kg, hoạt động trung bình có thể ăn khoảng 165 calo từ mỡ (10% tổng số năng lượng) tương đương với 18g mỡ bão hòa (số  lượng mỡ trên có thể được cung cấp bởi 50g chả quế hoặc 50g thịt mỡ hoặc 90g thịt nửa nạc, nửa mỡ hoặc 200g thịt nạc...).

Càfê

Càfê có thể làm tăng huyết áp đột ngột song sẽ được dung nạp rất nhanh. Do vậy, cho tới hiện nay không cần phải khuyên bệnh nhân giảm lượng càfê được uống.

Thuốc lá

Hút thuốc lá có hại cho sức khỏe nói chung, đặc biệt cho bệnh lý tim mạch và hô hấp. Ngừng hút thuốc lá có thể làm tăng cân, nhưng huyết áp sẽ giảm và lợi ích do ngừng hút thuốc lá rất rõ ràng.

2) Thuốc điều trị tăng huyết áp

Biện pháp cơ bản điều trị tăng huyết áp gồm những thay đổi chế độ ăn, lối sống vừa đề cập ở trên, nhưng với đa số người đái tháo đường thường xuyên phải kết hợp  2 thứ thuốc hạ huyết áp khác nhau mới có hiệu quả. Các thuốc hạ huyết áp không những phải có tác dụng hạ huyết áp, mà còn phải có đặc tính bảo vệ tim, thận và không thay đổi chuyển hóa đường, mỡ trong cơ thể. Do đó, các thuốc ức chế men chuyển dạng angiotensin, ức chế thụ thể angiotensin phải được coi là thuốc ưu tiên dùng đầu tiên.

Thuốc ức chế men chuyển angiotensin

Thuốc ức chế men chuyển angiotensin làm giảm huyết áp do ức chế quá trình chuyển angiotensin I thành angiotensin II. Angiotensin II có tác dụng tăng trở kháng thành mạch, tăng thể tích máu và kích thích tiết aldosterone.

Nhiều công trình nghiên cứu chứng minh được tác dụng có lợi của nhóm thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ABCD trial; CAPPP; FACET): giảm nhồi máu cơ tim 63%, giảm tử vong do mọi nguyên nhân 62%. Thuốc còn có ưu điểm không gây rối loạn mỡ máu, đường máu, acid uric khi dùng kéo dài.

Chỉ định: tăng huyết áp; suy tim; nhồi máu cơ tim; rối loạn chức năng thất trái; bệnh thận do tiểu đường.

Chống chỉ định: dị ứng thuốc; phù mạch; hẹp mạch thận 2 bên; cường aldosteron nguyên phát; có thai từ tháng thứ 3 trở đi.

Tác dụng phụ: ho (0,5-2%); phù chi; tăng kali máu; tụt huyết áp; đau ngực; đánh trống ngực; gây protein niệu; nổi mẩn đỏ; thay đổi vị giác; phù mạch-mặt, môi, họng (1/1000 bệnh nhân), giảm bạch cầu/mất bạch cầu hạt (hiếm); suy gan; rối loạn chức năng thận; liệt dương; ngất; buồn nôn, nôn, đau bụng.

Một số thuốc thường gặp:

Captopril (Capoten; Lopril) viên 25/50mg; liều 25- 450mg.

Enalapril (Benalapril; Renitec; Ednyt) viên 5/10/20mg; liều 2,5-40mg.

Lisinopril (Zestril) viên 5mg; liều 5-40mg.

Perindopril (Coversyl) viên 2/4mg; liều 2-4mg.

Quinapril (Accupril) viên 5mg; liều 5-40mg.

Thuốc ức chế thụ thể angiotensin II

ức chế cạnh tranh thụ thể angiotensin II, ức chế tiết aldosteron do đó làm giảm co mạch, giảm thể tích máu và giảm huyết áp. Vì có tác dụng tương tự thuốc ức chế angiotensin nên được chỉ định khi bệnh nhân không dung nạp được với thuốc ức chế angiotensin (ho).

Chỉ định: tăng huyết áp.

Chống chỉ định: dị ứng thuốc; cường aldosteron tiên phát; hẹp mạch thận 2 bên; có thai (từ tháng thứ 4 trở đi).

Một số thuốc thường gặp:

Losartan (Cozaar) viên 25mg; liều 25-100mg.

Irbesartan (Aprovel; Irovel) viên 150/300mg; liều dùng 150-300mg/ngày.

Telmisartan (Micardis) viên 40mg; liều dùng 20-80mg/ngày.

Thuốc lợi tiểu

Chủ yếu dùng lợi tiểu thiazide, thuốc ngăn cản tái hấp thu natri và chloride ở đoạn lên của ống thận.

Lợi tiểu thiazide có hiệu lực tương tự như thuốc ức chế men chuyển dạng angiotensin khi so sánh kết quả trên các sự kiện tim-mạch cũng như trên thận. Nhưng khi dùng liều cao, thiazide có một số bất lợi về mặt chuyển hóa như tăng LDL cholesterol, tăng đường máu, tăng axit uric máu. Khi dùng với liều thấp lợi tiểu có tác dụng tốt lên tim-mạch. [Perry HM Jr et al. Effect of treating isolated systolic hypertension on the risk of developing various types and subtypes of stroke: the Systolic Hypertesion in the Elderly Program (SEHP).JAVA 2000;284:465-471]. Thuốc lợi tiểu thiazide vẫn được sử dụng rộng rãi vì tính hiệu quả và rất rẻ (dùng với liều nhỏ hoặc dưới dạng kết hợp).

Chỉ định: tăng huyết áp nhẹ, trung bình; phù, suy tim sung huyết.

Chống chỉ định: mẫn cảm với thuốc; suy thận; vô niệu; có thai.

Một số thuốc thường gặp:

Hydrochlorothiazide viên 25mg; liều 12,5mg/ngày.

Indapamide (Natrilix SR 1,5mg) 1viên/ngày.

Zestoretic (dạng kết hợp 20mg lisinopril và 12,5mg hydrochlorothiazide); liều 1-2viên/ngày.

Coversyl plus (dạng kết hợp 4mg perindopril và 1,25mg indapamide); liều 1 viên/ngày.

Một số thuốc lợi tiểu khác:

Furosemide (Lasix) có tác dụng mạnh được dùng khi suy thận;

Spironolactone (Aldacton) làm tăng kali máu dùng khi bị cổ trướng do xơ gan, khi cường aldosteron tiên phát.

Thuốc chẹn bêta giao cảm

Thuốc chẹn bêta giao cảm làm hạ huyết áp do làm giảm nhịp tim, giảm cung lượng tim, đồng thời làm giãn mạch do làm giảm tiết renin từ tổ chức cạnh cầu thận.

Thuốc chẹn bêta giao cảm có một số bất lợi như: có tác động xấu lên chuyển hóa mỡ và đường; che dấu triệu chứng khi bị hạ đường huyết.

Chỉ định: tăng huyết áp; đau thắt ngực; nhồi máu cơ tim cấp; suy tim sung huyết (với chỉ định của bác sỹ chuyên khoa tim-mạch); loạn nhịp tim.

Chống chỉ định: nhịp chậm; nghẽn nhĩ thất độ 2-3; suy tim nặng; suy tim sung huyết (trừ trường hợp suy tim thứ phát do loạn nhịp nhanh có thể điều trị được bằng chẹn bêta giao cảm); bệnh phổi do co thắt (hen phế quản); bệnh động mạch ngoại vi.

Một số thuốc thường gặp:

Atenolol (Tenormin) viên 50mg; liều 25-100mg.

Bisoprolol (Concor) viên 5mg; liều 5-10mg.

Carvedilol* (Dilatren/Talliton) viên 6,25/12,5/25mg; liều 6,25-50mg.

Metoprolol (Betaloc) viên 50/100mg; liều 50-450mg.

*Carvedilol (thuốc chẹn bêta giao cảm không chọn lọc có tác dụng giãn mạch do ức chế cả thụ thể alpha 1) có thể là thuốc tốt nhất trong nhóm này do có tác dụng có lợi lên chuyển hóa mỡ và đường.

Thuốc chẹn alpha giao cảm

Nhóm thuốc này làm giảm huyết áp do ức chế tiền sy-nap (phentolamine, phenoxybenzamine) và hậu sy-nap (phentolamine, phenoxybenzamine, prazosine) của thụ thể alpha1 giao cảm dẫn đến giãn động mạch và tĩnh mạch.

Nhóm thuốc chẹn alpha giao cảm tuy không có tác dụng bất lợi lên chuyển hóa nhưng được ghi nhận  làm tăng tần xuất suy tim sung huyết và không có tác dụng phòng ngừa bệnh mạch vành, do vậy nhóm thuốc này không được ưu tiên sử dụng như là nhóm thuốc hàng đầu trên bệnh nhân ĐTĐ.

Tuy nhiên, nhóm thuốc chẹn alpha giao cảm có thể được dùng tốt trong trường hợp kết hợp thêm với nhóm thuốc hạ huyết áp khác khi mục tiêu huyết áp chưa đạt được hoặc trong trường hợp bệnh nhân nam giới có u xơ lành tính  tiền liệt tuyến.

Một số thuốc thường gặp:

Doxazosin (Carduran) viên 2mg; liều 1-16mg.

Prazosin (Minipress) viên 1/5mg; liều 1-20mg.

Alfuzosine (Xatral) viên 2,5mg/5mg; liều 10mg/ngày.

Lưu ý: nhóm thuốc này cần tăng liều từ từ vì hay gây hạ huyết áp tư thế.

Thuốc chẹn kênh calci

Các thuốc chẹn kênh calci làm giãn hệ tiểu động mạch bằng cách ngăn chặn dòng calci chậm vào trong tế bào cơ trơn thành mạch.

Nhóm thuốc chẹn kênh calci thuộc thế hệ đầu (Nifedipine) làm nhịp tim nhanh phản ứng nên hiện không được ưa chuộng dùng cho người ĐTĐ. Các thuốc chẹn calci thế hệ sau như amlodipine, felodipine ít ảnh hưởng lên sức co bóp cơ tim nên thường được sử dụng hơn. Các thuốc chẹn calci non- dihydropuridine như diltiazem và verapamil ảnh hưởng nhiều đến sức co bóp cơ tim nên phải rất thận trọng cho người có rối loạn dẫn truyền trong tim, rối loạn chức năng thất trái.

Nhìn chung, nhóm chẹn kênh calci không ảnh hưởng đến chuyển hóa mỡ, đường nên có thể dùng kết hợp tốt cho người ĐTĐ có tăng huyết áp. Tác dụng phụ khó chịu và hay gặp nhất của nhóm thuốc này là phù, đau đầu, nóng bừng mặt.

Đái tháo đường, điều trị đái tháo đường, điều trị bệnh đái tháo đường, các thuốc điều trị đái tháo đường, dinh dưỡng điều trị đái tháo đường, phối hợp thuốc trong điều trị đái tháo đường, chế độ ăn đái tháo đường, chế độ ăn bệnh nhân đái tháo đường, chế độ ăn của đái tháo đường, 	chế độ ăn uống cho người đái tháo đường, thuốc điều trị đái tháo đường, biến chứng đái tháo đường, điều trị biến chứng đái tháo đường, bệnh thận đái tháo đường, bệnh thần kinh đái tháo đường, tăng huyết áp và đái tháo đường, biến chứng cấp tính đái tháo đường, hôn mê tăng đường huyết, insulin, insulin điều trị bệnh đái tháo đường,, tạp chí sức khỏe, khoe24h, tap chi suc khoe, sức khỏe, suc khoe.
Hình mình họa. (Ảnh internet)
Một số thuốc thường gặp:

 

Nifedipine (Adalat; Nifehexal...) viên 10/20/30/60mg; liều 10-120mg.

Amlodipine (Amlor; Cardilopin; Amdepin...) viên 5/10mg; liều 5-10mg.

Felodipine (Plendil) viên 5mg; liều 2,5-10mg.

Manidipine (Madiplot) viên 10/20mg; liều 10-20mg.

Diltiazem (Tildiem) viên 60mg; liều 120-180mg.

Verapamil (Isoptine) viên 120mg; liều 120-480mg.  

Tóm lại: cân bằng chặt chẽ huyết áp, nhất là khi đã có bệnh lý thận ĐTĐ cố gắng bình ổn huyết áp < 130/80 mmHg, nên khuyến khích bệnh nhân tự kiểm soát huyết áp bằng máy đo cá nhân để có thêm dữ liệu cho việc phân bố thuốc được hợp lý, ưu tiên dùng ức chế men chuyển làm chậm quá trình diễn biến đến suy thận giai đoạn cuối. Các thuốc hạ huyết áp khác như chẹn bêta giao cảm chọn lọc trên tim, ức chế kênh calci, lợi tiểu thiazide liều thấp, ức chế thần kinh trung ương đều có thể sử dụng được. Thông thường bệnh nhân ĐTĐ cần tới 2-3 nhóm thuốc hạ áp khác nhau mới đủ khống chế huyết áp đến mức khuyến cáo.

Biến chứng cấp tính

Hạ đường huyết ở bệnh nhân tiểu đường

Định nghĩa:

Xác định hạ đường huyết khi đường máu < 0,5 g/l (<2,8mmol/l).

Lưu ý:

  Nhiều trường hợp có triệu chứng hạ đường huyết khi thử máu thấy 5-6mmol/l, thường quan sát thấy ở người tăng đường máu lâu ngày nay được tiêm insuline.

  Nếu hạ đường huyết thường xuyên triệu chứng về thần kinh bị xoá mờ nên bệnh nhân trông như ‘ bình thường’  với mức đường máu 2 mmol/l.

  ở người có tuổi các triệu chứng hạ đường huyết thường mờ nhạt, thể hiện có khi là mệt mỏi vô cớ, tăng huyết áp...Hạ đường huyết do sulfamide kéo dài nhiều giờ, bắt buộc vào viện theo dõi.

Nguy cơ:

Hạ đường huyết nặng và kéo dài có thể gây tử vong do tổn thương mất não không hồi phục (hiếm gặp).

Hoặc di chứng tổn thương thần kinh nhẹ hoặc nặng.

Hạ đường huyết tái phát nhiều lần có thể dẫn đến suy giảm trí tuệ.

Triệu chứng:

  Thường sảy ra lúc xa bữa ăn (> 2 giờ).

  Triệu chứng hết nhanh khi bổ sung đường glucose.

 Các triệu chứng không đặc hiệu. Hạ đường huyết càng nặng triệu chứng càng rõ nét. Nhưng quan trọng hơn là tốc độ tụt đường huyết, thời gian hạ đường huyết và đặc tính của từng bệnh nhân (người sợ bị hạ đường huyết có triệu chứng sớm và rõ nét hơn).

 Hạ đường huyết trong đêm không được phát hiện: buổi sáng thấy đau đầu, kiểm tra quần áo thấy ẩm, đường máu thường cao, đường niệu (-) hoặc ít.

 Các triệu chứng thường gặp:

*Đói cồn cào            

*Vã mồ hôi

*Mệt mỏi đột ngột    

*Rối loạn hành vi

*Run chân tay        

*Nhìn đôi

Hôn mê hạ đường huyết có thể diễn ra đồng thời hoặc trước các giai đoạn 1-2.

Các dấu hiệu in đậm sảy ra > 20% số trường hợp hạ đường huyết.

Nguyên nhân:

  Quá liều insuline (lúc kê đơn).

  Do sai lầm về dinh dưỡng:

- ăn muộn.

- ăn thiếu.

- Bỏ bữa ăn.

  Tăng hoạt động thể lực bất thường.

  Giảm nhu cầu insuline sau giai đoạn tăng tạm thời:

Hết nhiễm trùng.

Dừng thuốc làm tăng đường máu.

Sau phẫu thuật.

  Tiêm insuline vào vùng hoạt động mạnh.

  Tắm nước nóng sau khi tiêm insuline.

  Uống nhiều rượu.

  Uống thuốc làm hạ đường máu.

Xử trí:

  Xác nhận có hạ đường huyết bằng thử  đường huyết mao mạch.

  Nếu bệnh nhân tỉnh: bù đường qua ăn uống 15g đường:

  3 thìa cafe đường kính hoặc đường glucose.

  Hoặc 3 thìa mật ong.

  Hoặc 150ml (1 cốc nước) Coca Cola.

  Hoặc 1 cốc sữa.

  Hoặc 150ml nước cam.

  1/2 chiếc bánh mỳ (loại nhỏ).

Lưu ý: bệnh nhân có thể từ chối uống nước đường, hãy nói với bệnh nhân cần phải uống “cốc nước này” không dùng từ “nước đường”.

  Sau khi bệnh nhân đã tỉnh táo hoàn toàn: cần ăn thêm bữa phụ có đầy đủ bột-béo-đạm (cơm thịt hoặc bánh bao, bánh qui, bánh mỳ patê...)

10g đường glucose làm tăng đường máu 2,2 mmol/l trong 30 phút.

20g đường glucose làm tăng đường máu 3,3 mmol/l trong 45 phút.

Sau 60 phút đường máu bắt đầu giảm xuống.

  Nếu bệnh nhân hôn mê:

  Tiêm glucose tĩnh mạch: 20%  60ml (12g glucose).

  Sau khi bệnh nhân đã tỉnh táo hoàn toàn: cần ăn thêm bữa phụ có đầy đủ bột-béo-đạm (cơm thịt hoặc bánh bao, bánh qui, bánh mỳ patê...).

  Nếu không thể lấy được tĩnh mạch: tiêm bắp 1-2 ống Glucagon 1mg. Không tiêm cho người hạ đường huyết do rượu hoặc do sulfamide hạ đường huyết.

  Nếu bệnh nhân hạ đường huyết nặng do sulfamide hoặc không ăn được cần truyền Glucose 10% liên tục sau khi đã tiêm đường tĩnh mạch như trên (1,5-2 lít/24giờ).

  Trong mọi trường hợp:

  Sau 1 giờ xét nghiệm lại đường máu.

  Tìm nguyên nhân gây ra hạ đường huyết, phân tích, chỉ rõ cho bệnh nhân để biết cách đề phòng và xử trí lần sau.

Hôn mê tăng đường huyết 

Định nghĩa

o Rối loạn ý thức thứ phát do mất bù chuyển hoá nặng ở người ĐTĐ.

Nguyên nhân

o Biểu hiện đầu tiên của ĐTĐ không được chẩn đoán.

o Không đủ liều hoặc không dùng insulin hoặc thuốc uống hạ đường huyết.

o Sai lầm của chế độ ăn.

o Tăng nhu cầu insulin trong trường hợp:

- Nhiễm khuẩn (thường gặp), stress ( nhồi máu cơ tim, sau chấn thương, sau phẫu thuật…).

- Điều trị thuốc làm tăng đường máu ( thiazid, glucocorticoid…).

Lâm sàng

o Có 2 thể kinh điển và các dạng thức trung gian:

- Hôn mê nhiễm toan ceton: điển hình ở bệnh nhân ĐTĐ type 1 (hệ quả của thiếu insulin).

- Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu: điển hình ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 (còn tiết insulin, mất nước trầm trọng).

o Tiền triệu: ăn kém ngon, buồn nôn, nôn, yếu cơ, đái nhiều, uống nhiều, dễ trụy mạch, da khô, véo da (+).

o Có thể đau bụng (giả viêm phúc mạc) trong trường hợp nhiễm toan ceton.

o Thở nhiễm toan (nhịp thở Kussmaul) hơi thở có mùi ceton trong trường hợp nhiễm toan ceton.

o ở giai đoạn nặng:

- Rối loạn ý thức, ngủ gà và dẫn đến hôn mê.

- Sốc giảm thể tích, hạ huyết áp, nhịp tim nhanh.

- Thiểu niệu và vô niệu.

Chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt

o Xét nghiệm:

- Xét nghiệm ban đầu:

. Đường máu, CTM, creatinin, ure, K+, Na+ ,áp lực thẩm thấu máu.

. Khí máu.

. Xét nghiệm nước tiểu: tìm thể ceton niệu.

 Chẩn đoán phân biệt bằng hoá sinh các dạng khác nhau của hôn mê ĐTĐ:

Bảng 10: Chẩn đoán phân biệt các dạng hôn mê ĐTĐ khác nhau

- Xét nghiệm bổ sung:

. Phosphat.

. Lipase, CPK, Ca++ , transaminase, TSH cơ sở.

. Điện tim, XQ phổi.

. Chẩn đoán phân biệt: hôn mê do các nguyên nhân khác.

Điều trị

o Theo dõi tại khoa điều trị tăng cường: đặt monitor, theo dõi chặt chẽ huyết áp, đặt catheter tĩnh mạch trung tâm, đo áp lực tĩnh mạch trung tâm, làm các  xét nghiệm cần thiết, có thể đặt sonde dạ dày, thở ôxy.

o Bù nước: bằng dịch muối đẳng thương; nếu Na++ > 155 mmol/l: bắt đầu bằng NaCl 4,5%o. Khi đường máu < 250 mg/dl (13,9mmol/l), thay thế dịch muối đẳng trương bằng đường glucose 5%. Tốc độ truyền dịch phụ thuộc vào áp lực tĩnh mạch trung tâm (ALTMTT):

- ALTMTT < 3cm H2O: 1000ml/giờ.

- ALTMTT  3-8cm H2O: 500ml/giờ.

- ALTMTT  8-12cm H2O: 250ml/giờ.

o Cân bằng điện giải:

- Na+ : trong khung cảnh bù nước (xem trên).

- Bù K+  khi K+ < 5 mmol/l:

. K+ < 3mmol/l : 20mmol/giờ.

. K+ 3-4mmol/l : 15mmol/giờ.

. K+ 4-5mmol/l : 10mmol/giờ.

1g KCl có 13 mmol Kali.

- Tuỳ theo hàm lượng phosphat máu (xem thêm ở dưới): dùng phosphatK+ hoặc KCl.

- Bù phosphor nếu phosphor máu < 1 mmol/l: khoảng 40mmol/24 giờ cùng với bù K+ (dùng phosphat K+ ).

o Dùng insulin: dạng insulin nhanh bằng bơm tiêm điện. Liều lượng phụ thuộc vào đường máu.

Bảng 11: Liều insulin nhanh tuỳ theo đường máu

- Nếu đường máu không giảm > 10% sau 2 giờ so với giá trị ban đầu: cần phải tăng liều lên gấp đôi.

- Đường máu không được làm giảm quá 100mg/dl/giờ (5,5mmol/giờ).

- Trong thời kỳ đầu không để đường máu giảm < 250mg/dl (13,9mmol/l).

Nếu đường máu ở mức 250mg/dl: truyền đường glucose 5% và giảm liều insulin ở mức 2 đơn vị/giờ ; cũng có thể chuyển sang dùng đường tiêm dưới da.

o Điều chỉnh thận trọng toan máu nếu pH < 7,1 với dịch bicarbonat Na+.

Liều dùng:

Bicarbonat Na+ (mmol) = kiềm dư (-) x cân nặng (kg) x 0,1

Bảng 12: Tính dịch truyền bicarbonate

o Heparin liều thấp : Fraxiparine 0,2ml x 2 lần tiêm dưới da bụng.

o Điều trị bệnh kèm theo:  kháng sinh nếu có nhiễm khuẩn.

o Kiểm tra :đường máu, K+ , Na+, khí máu, ALTMTT, thời kỳ đầu làm xét nghiệm 1-2 giờ/lần.

Sử dụng insulin điều trị bệnh tiểu đường

I. Khái niệm chung:

- Insulin là một loại chất đạm (protein) duy nhất trong cơ thể có tác dụng làm giảm đường huyết.

- Insulin được tụy tiết ra một cách liên tục suốt 24 giờ trong ngày, số lượng tuỳ thuộc vào lượng đường do gan cung cấp vào khoảng 200 - 300g/ngày.

- Lượng insulin này được gọi là lượng insulin nền, khoảng 0,3-0,5 đơn vị/kg tức là vào khoảng 2/3 tổng số insulin trong 24 giờ.

- Insulin còn được tiết ra theo nhu cầu từng lúc của cơ thể, kích thích chủ yếu là sự tăng đường máu, nhất là sự gia tăng đường máu sau các bữa ăn. Lượng insulin này tuỳ thuộc vào:

+ Khối lượng thức ăn đưa vào.

+ Khả năng kích thích của thức ăn lên tế bào bêta của tụy.

Lượng insulin được tiết ra theo ăn uống vào khoảng 0,3 đơn vị/kg.

- Nhu cầu tổng cộng về insulin trong 24 giờ là 0,7 - 0,8 đơn vị/kg. Ví dụ như một người có cân nặng 50 kg cần khoảng 35 - 40 đơn vị/24 giờ, trong đó lượng insulin nền là 25 đơn vị, lượng insulin theo nhịp ăn uống là 15 đơn vị.

- Vì insulin là chất đạm nên khi uống vào đường tiêu hoá sẽ bị phân huỷ do đó cần phải tiêm. Các loại insulin uống và xịt qua đường hô hấp vẫn còn trong giai đoạn thử nghiệm.

Đái tháo đường, điều trị đái tháo đường, điều trị bệnh đái tháo đường, các thuốc điều trị đái tháo đường, dinh dưỡng điều trị đái tháo đường, phối hợp thuốc trong điều trị đái tháo đường, chế độ ăn đái tháo đường, chế độ ăn bệnh nhân đái tháo đường, chế độ ăn của đái tháo đường, 	chế độ ăn uống cho người đái tháo đường, thuốc điều trị đái tháo đường, biến chứng đái tháo đường, điều trị biến chứng đái tháo đường, bệnh thận đái tháo đường, bệnh thần kinh đái tháo đường, tăng huyết áp và đái tháo đường, biến chứng cấp tính đái tháo đường, hôn mê tăng đường huyết, insulin, insulin điều trị bệnh đái tháo đường,, tạp chí sức khỏe, khoe24h, tap chi suc khoe, sức khỏe, suc khoe.
Hình mình họa. (Ảnh internet)
II. Ai cần được điều trị bằng Insulin

 

1. Bệnh tiểu đường phụ thuộc insulin (týp 1)

* Biểu hiện:

- Khởi phát ở người trẻ tuổi, thường ở bệnh nhân dưới 40 tuổi.

- Triệu chứng rõ ràng: khát, uống và đái nhiều, ăn nhiều và gầy nhiều.

- Có ceton trong nước tiểu.

Tiến triển nhanh chóng đến tình trạng nhiễm toan ceton, thở nhanh, nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời có thể gây ra biến chứng nguy hiểm đến tính mạng.

* Xét nghiệm:

- C- peptid.

- Kháng thể kháng tiểu đảo (chưa có sẵn ở Việt Nam).

2. Bệnh ĐTĐ tuýp 2 cần được điều trị bằng insulin khi:

* Có các triệu chứng rõ ràng khi không dùng Insulin (týp 1 chậm).

- Khát, uống - đái nhiều, ăn nhiều, gầy sút, teo cơ.

- Xuất hiện ceton trong nước tiểu.

- Tăng đường máu thường xuyên (> 3g/l hoặc > 16 mmol/l).

* Các tình huống đòi hỏi phải dùng insulin trong bệnh ĐTĐ týp 2:

- Hôn mê tăng đường máu.

- Các loại nhiễm khuẩn: đường hô hấp, tiết niệu, răng và tai mũi họng...

- Tai biến mạch rộng: nhồi máu cơ tim...

- Can thiệp phẫu thuật làm nhanh lành sẹo vết thương, vết loét ở chân...

- Dùng các thuốc làm tăng đường máu: corticoide (dexamethazon, prednisolon...).

- Có các biến chứng tiểu đường: bệnh lý võng mạc, đau do tổn thương thần kinh trong bệnh lý tiểu đường...

- Thất bại khi dùng thuốc uống hạ đường huyết.

 Các chỉ số lâm sàng là rất cơ bản để chuẩn đoán bệnh tiểu đường phụ thuộc insulin, điều trị bằng insulin là bắt buộc, có tính chất liên tục và vĩnh viễn.

 Tất cả các bệnh nhân tiểu đường có thể trở nên cần điều trị bằng insulin một cách tạm thời hoặc vĩnh viễn.

Đường máu ở người bình thường sau mỗi bữa ăn sẽ tăng lên chút ít trong vòng 1 - 2 giờ, sau sẽ trở lại bình thường.

Đường máu không tăng lên quá cao cũng như không hạ quá thấp ở người bình thường là nhờ vào hoạt động nhịp nhàng  của các cơ quan chủ yếu là tụy, gan, mô mỡ, cơ. Khi có thức ăn trong dạ dày - ruột, tụy lập tức đáp ứng bằng cách tiết thêm nhiều insulin (biểu đồ 1).

Trong cơ thể insulin có vai trò như là chiếc chìa khoá mở các kho lưu trữ ở gan, cơ và mô mỡ để đưa đường vào đó cất giữ. Ngược lại khi đường máu xuống thấp tụy tiết ít insulin hơn, nhưng không bao giờ sự tiết insulin ngừng lại kể cả khi nhịn đói dài ngày. Tụy không tiết insulin chỉ gặp khi  bị ĐTĐ tuýp 1. Do vậy với bệnh ĐTĐ tuýp 1 nếu buộc phải nhịn đói để làm xét nghiệm, điều trị phẫu  thuật cần gây mê chẳng hạn: hoặc là ta dùng insulin và truyền đường kèm theo qua đường tĩnh mạch nếu thời gian nhịn đói kéo dài, hoặc là không truyền đường chỉ tiêm insulin với 1/3 - 1/2 liều thường lệ. Không bao giờ được ngừng tiêm insulin.

Với người bệnh ĐTĐ tuýp 2 tụy tiết thiếu insulin và không kịp thời, kết hợp với một số yếu tố thuận lợi như béo phì, ít vận động khiến cho lượng insulin vốn ít lại hoạt động kém hiệu quả làm đường tăng cao nhất là sau khi ăn 1-2 giờ.

biểu đồ 2:

Sự tiết insulin trong ĐTĐ týp II không được điều trị tốt: đỉnh tiết insulin sau bữa ăn thấp và chậm (Biểu đồ 2)

Việc điều trị ĐTĐ bằng insulin thực chất là cố gắng khôi phục lại lượng insulin cần thiết bằng cách làm tăng lượng insulin sau mỗi bữa ăn và duy trì được lượng nhỏ insulin lúc đói.

Để đáp ứng mục đích này các hãng dược phẩm đã tạo ra rất nhiều loại insulin khác nhau. Khi tiêm insulin: bắt buộc phải biết phân biệt từng loại dựa vào thời gian tác dụng của chúng.

III. Nguồn gốc các loại Insulin được

sử dụng trong điều trị đtđ

Phân loại insulin theo nguồn gốc sản xuất:

1. Từ nguồn gốc động vật: từ tụy của bò hay lợn, có khác biệt một chút về cấu trúc so với insulin của người. Loại insulin này được tinh chế bằng phương pháp sắc ký đạt độ tinh khiết hoá rất cao. Ngày nay người ta có xu hướng ít dùng insulin có nguồn gốc từ động vật vì e ngại các chứng bệnh có thể lây sang người như bệnh “bò điên” chẳng hạn.

2. Insulin “người”: được sản xuất từ insulin động vật qua các phương pháp.

- Bán tổng hợp từ insulin lợn, bản chất cũng từ nguồn động vật, hiện ít được sử dụng.

- Tái tổ hợp gen: là loại insulin trung tính đơn  thành phần, được sản xuất bằng kỹ thuật tái tổ hợp gen, sử dụng nấm men làm cơ thể sinh sản sau đó được chiết xuất đạt đến độ tinh khiết hoá và chất lượng cao nhất, có cấu trúc giống hệt như insulin tự nhiên của người, do vậy ít tạo kháng thể và thời gian tác dụng ngắn hơn. Khi có kháng thể kháng insulin, một phần insulin tiêm vào sẽ bị trung hòa bớt dẫn đến việc phải tăng liều điều trị.

* Lưu ý:

Nồng độ insulin theo số đơn vị trong 1ml:

- Loại dùng cho bơm tiêm: 1ml có 40 đơn vị đóng trong lọ nhỏ 10ml (400 đơn vị/lọ).

- Loại dùng cho bút chích: 1ml có 100 đơn vị đóng trong ống 3ml (300 đơn vị/ống).

- Loại dùng cho bơm tiêm nồng độ từ 100 - 500 đơn vị/ml hiện nay chưa có tại Việt Nam.

Khi mua insulin cần xem kỹ nồng độ insulin và tổng lượng insulin có trong lọ.

Phân loại insulin theo thời gian tác dụng:

1. Insulin tác dụng nhanh

Đặc tính: trong suốt, có thể dùng bằng tất cả mọi đường tiêm: tĩnh mạch, dưới da, tiêm bắp và dùng được trong mọi tình huống.

Khi tiêm dưới da: insulin bắt đầu có tác dụng sau 15 - 20 phút. Có tác dụng cực đại sau 2 - 4 giờ. Hết tác dụng sau 6 - 8 giờ.

* Lưu ý: khi dùng insulin tiêm dưới da thì insulin có tác dụng nhanh hơn và ngắn hơn nếu như vùng tiêm có tăng hoạt động thể lực (đùi nếu như tập chạy, cánh tay nếu như chơi tennis và bụng nếu như bơi thuyền...).

Lợi ích:

- Là loại duy nhất dùng trong cấp cứu do tác dụng hạ đường huyết nhanh chóng.

- Có thể trộn lẫn với insulin chậm tuỳ theo mục đích và nhu cầu điều trị.

- Có thời gian tác dụng ngắn và mạnh để làm giảm đường huyết sau khi ăn.

Bất lợi:

Thời gian tác dụng ngắn nên phải tiêm nhiều lần trong ngày (4 mũi tiêm dưới da, thực tế không dùng riêng insulin tác dụng nhanh để điều trị mà phải kết hợp thêm insulin tác dụng bán chậm hoặc chậm).

2. Insulin tác dụng bán chậm (dịch tiêm đục như sữa)

Để làm giảm bớt số lần tiêm trong ngày, người ta đã sản xuất ra loại insulin có tác dụng dài hơn gồm 2 loại insulin là NPH (Neutral Protamine Hagedorn) và, IZS (Insulin Zinc Suspension) hay lent để sử dụng trong chế độ điều trị với 2 hay 3 mũi tiêm trong ngày.

Loại insulin NPH: sử dụng protamin là một loại polypeptid có khả năng gắn insulin.

- Bắt đầu tác dụng sau 1 giờ.

- Tác dụng mạnh nhất sau 4 - 8 giờ.

- Hết tác dụng sau 14 - 18 giờ.

- Với loại insulin này thì các điểm gắn kết insulin của protamin đã bão hoà nên loại insulin này có thể dùng trộn lẫn với insulin nhanh.

- Tuy nhiên nhược điểm của loại insulin này có thể gây ra loạn dưỡng mỡ nơi tiêm (hiếm gặp).

Loại insulin IZS (insulin kẽm):

Thời gian tác dụng có thể từ 6 - 36 giờ tuỳ theo cách thức sản xuất.

- ưu điểm của các loại insulin tác dụng trung bình là có nhiều loại với thời gian tác dụng khác nhau thích ứng với yêu cầu điều trị và sự thuận lợi của từng bệnh nhân.

- Nhược điểm: Có thể gây đau khi trộn với insulin nhanh.

* Cần chú ý khi trộn lẫn insulin nhanh với chậm thì loại nhanh phải được lấy vào bơm tiêm trước và dịch trộn phải được tiêm ngay.

3. Insulin trộn sẵn (dịch tiêm đục như sữa)

Là loại insulin trộn lẫn giữa 2 loại nhanh và trung bình theo tỷ lệ nhất định.

- Có  tỷ lệ 30% insulin nhanh và 70% insulin trung bình.

- Có  tỷ lệ 50% insulin nhanh và 50% insulin trung bình. Ngoài ra còn tiến hành trộn theo những tỷ lệ khác, trong đó loại nhanh chiếm 10- 20- 40%.

Đặc tính: cùng lúc có 2 tác dụng là nhanh do loại nhanh đảm trách và kéo dài do loại trung bình đảm trách.

-Với người ăn nhiều tinh bột- đường thì thích hợp với loại trộn 40-50% nhanh.

- Phần lớn bệnh nhân dùng loại trộn 30% nhanh.

- Một vài người có khuynh hướng hạ đường huyết giữa các bữa ăn nên dùng trộn 10 - 20%.

ưu điểm: tiện dụng, phù hợp hơn với sinh lý mà không đòi hỏi phải tự trộn lấy liều khi dùng riêng từng loại  nhanh chậm.

Nhược điểm: vì tỷ lệ pha trộn là cố định nên khó điều chỉnh cho phù hợp với từng tình huống cụ thể: ăn bữa no nếu tăng liều cả insulin nhanh và chậm sẽ gây hạ đường huyết muộn. Trong khi lẽ ra chỉ tăng từ 2 đến 6 đơn vị loại insulin nhanh.

4. Insulin tác dụng chậm (dịch tiêm đục như sữa)

Đặc tính: là loại insulin có kết hợp với kẽm, chia làm 2 nhóm chính

- Nhóm 1: loại tác dụng 24 giờ

- Nhóm 2: loại tác dụng 36 giờ

ưu điểm:

- Chỉ cần một mũi tiêm có tác dụng trong cả 24 giờ trong ngày.

- Có thể dùng trong kỹ thuật 4 mũi tiêm/ngày, 3 mũi nhanh vào trước các bữa ăn và một mũi chậm vào lúc đi ngủ (22 giờ).

Nhược điểm:

- Tại chỗ: đỏ, đau nơi tiêm.

- Hạ đường huyết không lường trước do tác dụng kéo dài chồng chéo với các mũi tiêm khác.

- Thường không làm giảm được đường máu sau ăn do thời gian hấp thu vào máu chậm.

5. Insulin tác dụng siêu chậm (dịch tiêm trong)

Đặc tính: là loại insulin nhân tạo có tác dụng kéo dài thực sự.

ưu điểm: tốc độ hấp thu ổn định hơn 2 loại insulin bán chậm và chậm, do đó có tác dụng làm insulin nền tốt hơn, ít gây hạ đường huyết hơn. Hiện chưa có ở Việt Nam.

6. Insulin tác dụng cực nhanh (dịch tiêm trong)

Đặc tính: là loại insulin nhân tạo có tác dụng chỉ 10-15 phút sau khi tiêm. Hết tác dụng sau 3 giờ.

ưu điểm: có tác dụng hạ đường huyết sau ăn tốt. Không cần phải chờ 30 phút mới được ăn như đối với loại insulin tác dụng nhanh.

Nhược điểm: giá thành đắt. Chưa sẵn có ở Việt Nam.

Bảng 13: Một số loại insulin có trên thị trường

IV. Các cách tiêm Insulin

Cách 1:

3 mũi tiêm một ngày vào trước 3 bữa ăn chính:

Trong đó:

- Sáng tiêm insulin nhanh, khoảng 25% tổng liều.

- Trưa tiêm insulin nhanh, khoảng 25% tổng liều.

- Chiều tiêm insulin nhanh trộn với insulin bán chậm hoặc chậm, khoảng 50% tổng liều.

Ví dụ: Một người 50 kg, ước tính liều ban đầu là 0,5 đơn vị/kg/ngày: tổng liều sẽ là 24 đơn vị; phân bố liều ban đầu: sáng 6 đơn vị insulin nhanh, trưa 6 đơn vị insulin nhanh, chiều 12 đơn vị insulin bán chậm hoặc insulin trộn sẵn. Điều chỉnh từ 10-20% liều lượng đơn vị insulin khi đường máu chưa đạt được mục tiêu điều trị. Thường sau 2-3 ngày chỉnh liều 1 lần.

ưu điểm là khôi  phục được sự tiết insulin gần giống với sinh lý bình thường nhưng nhiều khi thời gian tác dụng của insulin bán chậm không đủ dài để khống  chế đường máu vào sáng sớm hôm sau.

Cách 2:

- 4 mũi tiêm /ngày trong đó 3 mũi nhanh trước 3 bữa ăn và 1 mũi bán chậm hoặc chậm lúc đi ngủ: là cách tiêm insulin tương đối gần với tiết insulin bình thường, đường máu thường được ổn định tốt hơn và dễ điều chỉnh hơn, thích hợp với người trẻ tuổi, có hiểu biết tốt và có điều kiện tự theo dõi.

Phân bố liều gợi ý có thể như sau: Mỗi mũi tiêm insulin nhanh chiếm 20% tổng liều; insulin bán chậm hoặc chậm chiếm 40% tổng liều. Ví dụ cho người 50 kg cần 24 đơn vị/ngày: Sáng 6 đơn vị insulin nhanh; Trưa 4 đơn vị insulin nhanh; Chiều 4 đơn vị insulin nhanh và Tối 10 đơn vị insulin bán chậm hoặc chậm. Điều chỉnh liều tăng hoặc giảm 10-20% tổng liều sau 2-3 ngày.

Cách 3:

- 2 mũi tiêm/ngày vào trước bữa ăn sáng và tối: sử dụng loại insulin tác dụng bán chậm, đường máu sau ăn sáng tối thường tăng nhiều do nồng độ insulin bán chậm hấp thu chậm không gặp gỡ với tình trạng tăng đường máu sau ăn. Để sửa chữa nhược điểm này có thể trộn thêm vào loại insulin tác dụng nhanh.

Phân bố liều 2/3 vào buổi sáng; 1/3 vào buổi chiều. Ví dụ: cho người 50kg, liều dùng ban đầu 24 đơn vị/ngày: 16 đơn vị trước ăn sáng; 8 đơn vị trước ăn chiều. Tăng giảm liều 10-20% sau 2-3 ngày.

Cách 4:

- 1 mũi  tiêm/ngày: dùng loại insulin chậm, với cách tiêm này hiếm khi đường máu được điều chỉnh tốt. Chỉ dùng cho trẻ em còn quá nhỏ hoặc người già, người không thể thực hiện được các cách tiêm 2 - 3 hoặc 4 mũi tiêm/ngày. Việc điều trị lúc này chủ yếu nhằm mục đích sinh tồn, tránh đường máu quá cao.

Tiêm insulin nhiều lần/ngày thì phải đau nhiều lần nhưng đổi lại đường máu được điều chỉnh tốt hơn, giảm tối thiểu được các biến chứng. Ngày nay các loại bút tiêm insulin cho phép lấy liều insulin cực kỳ chính xác và kim tiêm cực nhỏ khiến cho việc tiêm insulin được đơn giản hoá và đỡ đau hơn rất nhiều.

Chú ý:

- Mũi tiêm cuối cùng trong ngày bắt buộc phải là insulin bán chậm hoặc chậm mới có thời gian đủ dài để duy trì đường máu tới sáng hôm sau.

- Sử dụng insulin loại nào vào những giờ nhất định trong ngày, không được hoán vị thay thế các mũi tiêm nếu không có ý kiến của bác sĩ chuyên khoa.

- Khi mua insulin phải chú ý mua đúng loại insulin đang tiêm. Trường hợp cần thay đổi phải hỏi ý kiến bác sĩ.

V. Kỹ thuật tiêm Insulin

1. Vị trí tiêm dưới da:

- Tất cả tổ chức dưới da trên cơ thể đều có thể dùng để tiêm, tuy nhiên trên thực tế thường dùng vùng đùi, cánh tay, bụng, hông, lưng.

- Sự luân chuyển định kỳ các mũi tiêm theo truyền thống được hướng dẫn hiện nay không được áp dụng nữa. Ngày nay người ta chọn một vùng tiêm cho vài ngày vào những giờ tiêm nhất định, sau khi hết điểm tiêm mới chuyển sang vùng khác. Mỗi mũi tiêm cách nhau 2 - 4cm, ví dụ: với người tiêm 3 mũi/ ngày chẳng hạn, chọn vùng bụng cho các mũi tiêm buổi sáng, vùng cánh tay dành cho các mũi tiêm buổi trưa, vùng đùi cho các mũi tiêm  buổi chiều. Cần chú ý rằng nếu như vùng dự định tiêm sẽ phải vận động nhiều thì nên chuyển sang vùng khác. Ví dụ: nếu như vùng đùi được chọn sẽ tiêm mà sau đó đạp xe nhiều thì tiêm lên cánh tay.

2. Giờ tiêm:

- 15 - 30 phút trước khi ăn nếu là loại insulin nhanh, kể cả loại trung bình có pha trộn.

- 15 phút - 2 h trước khi ăn nếu là loại tác dụng trung bình (thường trước khoảng 1 h).

Lưu ý: Khi đã chọn giờ tiêm thích hợp với gia đình mình không nên thay đổi giờ tiêm đó quá thường xuyên.

3. Dụng cụ và cách tiêm:

- Dụng cụ: bông, cồn 700, bơm tiêm hay bút tiêm. Cần chú ý sát trùng cả nút cao su của lọ thuốc khi lấy thuốc.

- Cách tiêm: với bệnh  nhân có lớp mỡ dày và bút tiêm hay bơm có kim tiêm với độ dài  thích hợp thì tiêm thẳng hay chéo vào dưới da.

Với các bệnh  nhân có lớp  mỡ dưới da mỏng thì có thể dùng kỹ thuật véo da để tiêm.

Tốt nhất bệnh nhân nên tự tiêm để  tăng tính độc lập, tăng khả năng tiêm theo giờ nhất định để hiệu quả điều trị tốt hơn.

Kỹ thuật lấy và tiêm insulin

Tự lấy và tiêm insulin là yêu cầu thiết yếu để giữ đường máu ổn định tốt. Nếu nhờ người khác tiêm hộ, hãy hình dung, nếu người đó đi vắng hoặc vào các ngày lễ tết, không thể đến tiêm được chẳng hạn. Sau một thời gian thực hành bạn sẽ thấy việc tự tiêm insulin sẽ không đến nỗi quá phức tạp và đau đớn nếu theo đúng các chỉ dẫn sau:

1. Trước hết hãy chuẩn bị các vật dụng cần thiết: bông, cồn, bơm tiêm, insulin.

2. Rửa tay sạch sẽ bằng xà phòng để tránh nhiễm khuẩn.

3. Lăn nhẹ lọ insulin loại đục (chậm hoặc bán chậm) trong lòng 2 bàn tay để trộn đều dịch tiêm bị lắng đọng. Động tác này thường bị bỏ quên. Không được lắc mạnh lọ insulin.

4. Sát trùng nút cao su của lọ insulin bằng bông cồn 70o.

5. Lấy bơm tiêm sạch, tháo bộ phận bảo vệ kim.

6. Kéo piston lấy lượng không khí tương đương với liều insulin cần tiêm. Ví dụ 0,2ml = 8 đơn vị insulin cho loại có nồng độ 1ml = 40 đơn vị.

0,3ml = 12 đơn vị insulin cho loại có nồng độ 1ml = 40 đơn vị.

0,4ml = 16 đơn vị insulin cho loại có nồng độ 1ml = 40 đơn vị.

0,5ml = 20 đơn vị insulin cho loại có nồng độ 1ml = 40 đơn vị.

0,6ml = 24 đơn vị insulin cho loại có nồng độ 1ml = 40 đơn vị.

7. Đâm kim qua nút cao su. Đẩy lượng không khí trong bơm tiêm vào lọ insulin.

8. Xoay ngược lọ thuốc và bơm kim tiêm đồng thời. Lấy thuốc đến vạch cần thiết.

9. Nếu có bọt khí trong bơm tiêm, gõ nhẹ lên bơm tiêm ở chỗ có bọt khí sao cho bọt khí dịch chuyển lên trên, bơm trở lại vào lọ thuốc. Lấy lại thuốc đến vạch cần thiết sao cho không có bọt khí ở trong bơm tiêm. Rút kim và bơm tiêm ra khỏi lọ thuốc. Chuẩn bị tiêm.

10. Sát trùng vùng da được tiêm từ giữa vòng ra xung quanh.

Làm căng vùng da định tiêm bằng ngón cái và ngón trỏ. Đâm kim nhanh và thẳng góc 90o. Nếu vùng da định tiêm mỏng thì nên véo da lên để tiêm.

11. Giữ bơm tiêm bằng 1 tay. Tay kia kéo piston lên một chút để thử xem có máu lên bơm tiêm hay không? Nếu có máu trào lên có nghĩa là kim tiêm đã đi vào trong mạch máu - không được tiêm. Rút kim tiêm ra và chọn vị trí khác để tiêm lại.

12. Nếu không có máu. Đẩy piston để đưa thuốc vào.

13. Khi bơm xong, rút kim ra nhanh. ấn bông tẩm cồn lên vết tiêm một lúc. Không được xoa bóp nơi tiêm vì sẽ làm cho thuốc ngấm vào máu nhanh hơn.

Tự trộn insulin:

Tự tiêm lấy insulin để trong cùng một mũi tiêm có cả tác dụng của insulin nhanh và insulin bán chậm dùng trong một số cách tiêm insulin.

Tự trộn lấy insulin không có gì quá phức tạp, chỉ cần tiến hành theo các bước sau:

1. Chuẩn bị bông, cồn 700, bơm tiêm, insulin tác dụng nhanh (loại trong) và bán chậm (loại đục).

Giả sử ta cần lấy 20 đơn vị insulin bán chậm và 10 đơn vị insulin nhanh.

2. Đầu tiên lấy lượng không khí tương đương với liều insulin bán chậm, đưa lượng không khí này vào lọ insulin bán chậm, rút kim và bơm tiêm ra - Không lấy thuốc lúc này.

3. Lấy lượng không khí tương đương với liều insulin tác dụng nhanh.

4. Đâm kim vào lọ insulin tác dụng nhanh, đưa lượng không khí này vào.

5. Quay ngược lọ thuốc và lấy thuốc tương đương với 10 đơn vị.

6. Quan sát xem có bọt khí trong bơm tiêm hay không?. Nếu có bọt khí, gõ nhẹ vào bọt để bọt dịch chuyển lên trên. Bơm bọt khí vào lọ, lấy lại liều thuốc.

7. Nếu vẫn còn bọt khí : lặp lại động tác trên sao cho lấy chính xác đúng 10 đơn vị insulin nhanh.

8. Quay lại lọ insulin bán chậm. Đâm kim vào và rút thuốc ra đúng đủ 20 đơn vị bán chậm, nghĩa là vị trí piston ở 30 đơn vị vì 10 đơn vị nhanh + 20 đơn vị bán chậm = 30 đơn vị.

Rút kim và tiêm như bình thường.

VI. nguyên tắc cơ bản để điều chỉnh liều Insulin

1. Thay đổi liều chỉ ảnh hưởng tới đường máu trong vòng thời gian tác dụng của insulin, nói chung 5 giờ sau khi tiêm với loại nhanh và 8 giờ với loại bán chậm.

2. Thay đổi liều phải tính đến các sự kiện tình cờ như vận động thể lực, ăn uống khác thường... Trong trường hợp này liều tiêm cần thay đổi từ trước với sự ước đoán về cường độ vận động.

3. Thay đổi liều cần phải tính tới sự tăng giảm đường máu ở những ngày trước đó.

4. Thay đổi liều để đạt được mục tiêu đường máu do bác sĩ chuyên khoa đặt ra tuỳ từng bệnh nhân.

Ví dụ:

- Bệnh nhân trẻ và bệnh nhân có biến chứng mắt, thần kinh... cần có đường máu gần bình thường, nghĩa là buổi sáng lúc đói 4,4 - 6,7 mmol/l và sau ăn là < 8,9mmol/l.

- Bệnh nhân đã có tuổi, kém tự chủ... mục tiêu là tránh hạ đường huyết và tăng đường huyết nhiều >14 mmol/l .

5. Kỹ thuật tự đo đường máu, đường niệu, ceton niệu thường xuyên cho phép điều chỉnh chặt chẽ đường máu trong giới hạn mục tiêu đặt ra.

6. Quyển sổ ghi chép lại các kết quả xét nghiệm là biện phát duy nhất cho phép hình dung quá trình diễn biến trong nhiều ngày (điều chỉnh liều tốt hơn).

7. Để có thể hiểu và học được cách tự điều chỉnh insulin cần đi sinh hoạt câu lạc bộ và khám bệnh đều đặn với các bác sĩ chuyên khoa.

VII. Bảo quản Iinsulin

- Nơi khô ráo, nhiệt độ lý tưởng là 2- 80C, tránh ánh nắng.

- Tuy nhiên insulin được sản xuất ra rất bền vững đến tận nhiệt độ 27oC cho nên với thời tiết mùa đông thì  việc bảo quản không thành vấn đề. Về mùa hè với việc tích trữ dài hạn ở nhiệt độ cao có thể ảnh hưởng tới chất lượng của insulin. Lưu trữ dùng ngắn hạn chỉ cần để nơi mát nhất trong nhà là đủ (trong trường hợp không có tủ lạnh), ở 300C có thể để được trong 4 - 6 tuần không ảnh hưởng đến chất lượng.

Lưu ý:

- Lọ đang dùng  không để trong tủ lạnh vì tiêm bị đau.

- Tuyệt đối không để insulin trong ngăn đá vì ở đó nhiệt độ dưới 00C.

- Khi mua hoặc khi lấy insulin mới đem về dùng cần kiểm tra lại chất lượng, nếu insulin nhanh (loại trong) có vẩn đục hoặc loại bán chậm và chậm (loại đục) có vẩn cặn thì không nên dùng.

Tóm lại

- Đối với ĐTĐ tuýp 1 việc điều trị bằng insulin là bắt buộc có tính chất liên tục, đều đặn và vĩnh viễn.

- Đối với ĐTĐ tuýp 2 việc điều trị bằng insulin có thể là cần thiết một cách tạm thời hay vĩnh viễn.

- Khi điều trị bằng insulin bệnh nhân cần biết rõ mình dùng loại insulin nào, nhanh, trung bình, chậm. Số đơn vị của mỗi lần tiêm và số lần tiêm.

- Việc nắm vững kỹ thuật tiêm, kiểm soát đường huyết thường xuyên là hết sức cần thiết.

- Những hiểu biết về dấu hiệu hạ đường huyết cũng như xử lý và đề phòng hạ đường huyết là rất quan trọng.

Tự đo đường máuvà tự kiểm soát bệnh

Chúng ta đều biết rằng biến chứng của bệnh tiểu đường tùy thuộc vào thời gian mắc bệnh, nhất là vào mức đường máu trung bình. Do vậy bệnh nhân cần phải tự đo đường máu, tự điều chỉnh điều trị theo kết quả đo được.

Tự đo đường máu có ý nghĩa:

- Tự giám sát bệnh.

- Tự điều chỉnh liều theo kết quả thu được dưới sự hướng dẫn của bác sỹ trong giai đoạn đầu.

- Có được kết quả đường máu trung bình (theo tuần, tháng).

- Để giải quyết các tình huống cấp (hạ đường máu, tăng đường máu).

Bảng 14: Mục tiêu kiểm soát đường máu theo khuyến cáo của Hội ĐTĐ Mỹ (2000)

*Can thiệp điều trị có thể là:

- Thay đổi thuốc đang điều trị.

- Thay đổi thói quen (ăn uống, tập thể dục).

- Thay đổi cách tự kiểm soát.

- Thay đổi bác sỹ điều trị hoặc nơi điều trị.

Tự kiểm soát đường máu bằng máy đo đường máu mao mạch

Với người ĐTĐ týp 2 điều trị thuốc uống hạ đường máu

Thử bao nhiêu lần

Có thể thử 2-3 lần/tuần. Nhưng cần được thử vào các giờ khác nhau: thử lúc đói, trước các bữa ăn chính, sau ăn 1-2giờ. Ghi kết quả vào quyển sổ với ngày giờ chính xác cùng với các ghi chú đặc biệt nếu có. Sau một thời gian chúng ta sẽ có bức tranh toàn thể về đường máu và kết quả đường máu trung bình.

Cách xử trí

- Nếu đường máu thường xuyên tăng cao, cần phải xem lại cách thức điều trị: thay đổi chế độ ăn, tập thể dục, uống chưa đủ thuốc hoặc thuốc chưa thích hợp (nguyên nhân hay gặp nhất).

- Nếu đường máu chỉ tăng sau các bữa ăn: có thể tăng liều thuốc uống hoặc thêm thuốc làm giảm đường máu sau ăn (Glucobay), nhưng thường chỉ cần thay đổi thành phần cơ cấu bữa ăn cũng đủ tác dụng.

- Nếu đường máu quá thấp (thường vào lúc giữa các bữa ăn và ban đêm), cần phải giảm liều thuốc uống hạ đường huyết, nhất là các sulfamid hạ đường huyết (Diamicron, Maninil, Amaryl, Glyburid....), nhưng nếu bệnh nhân đang thiếu cân và chế độ ăn đang thiếu năng lượng ta cũng có thể chọn giải pháp giữ nguyên liều thuốc và cho ăn thêm sẽ tránh được tình trạng hạ đường huyết kể trên đồng thời nâng được thể trạng bệnh nhân.

Với người ĐTĐ tuýp 1 hoặc tuýp 2 điều trị bằng insulin

Nếu có điều kiện thử nhiều lần/ngày (4lần): 3 lần trước 3 bữa ăn chính + 1 lần trước khi đi ngủ; thỉnh thoảng để chuông dậy vào 3 giờ sáng thử xem đường máu lúc này có bị hạ đường huyết hay không (nếu hạ đường huyết ban đêm sẽ gây tăng đường huyết lúc sáng). Mỗi khi có sự thay đổi bất thường trong cơ thể cũng cần xem xét mức đường máu ngay lúc đó để có cách xử lý đúng. Tự thử đường máu mới có thể quyết định tập thể dục; xử lý hạ đường huyết; điều chỉnh chế độ ăn hoặc liều insulin cần tiêm.

Bảng 15: Lịch thử đường máu đối với bệnh nhân tiêm insulin

Khi đường máu đã ổn định, số lần thử đường máu có thể giảm bớt song nếu thử quá thưa sẽ khó có thể điều chỉnh đường máu sát theo diễn biến thực (đường máu tăng trong thời gian ngắn và hạ đường máu nhẹ thường không thể cảm nhận được).

Bảng 16: Một số gợi ý cho việc giãn lịch thử máu

Lưu ý:

Các kết quả thu được cần phải ghi lưu vào cuốn sổ với đầy đủ các thông số liên quan như giờ thử, khối lượng và loại thức ăn, các vận động cơ bắp bất thường…Khi đi khám bệnh trình diện cho bác sỹ biết để có kinh nghiệm xử lý cho các lần sau.

 Trên thị trường có nhiều loại máy thử đường máu với các tính năng, độ tin cậy và giá rất khác nhau: Nên đến các cơ sở chuyên khoa chữa bệnh ĐTĐ yêu cầu thêm thông tin trước khi quyết định mua máy.

Tạp chí Sức Khỏe

TAGS

Phòng bệnh tiểu đường hiệu quả

Tạp chí Sức Khỏe (Bài Thuốc Nam Chữa Bệnh) |

Tiểu đường là một bệnh do hậu quả của sự thiếu hụt Insulin (một loại hóc môn do tụy hay còn gọi là lá mía của người tiết ra). Bệnh được đặc trưng bởi tình trạng tăng đường ở trong máu và các rối loạn chuyển hóa khác.

Điều gì xảy ra nếu bạn loại bỏ đường khỏi chế độ ăn?

Tạp chí Sức Khỏe (Sống Khỏe) |

Áp dụng chế độ ăn kiêng đường theo 1 tháng sẽ cho bạn lợi ích sức khỏe không kém detox!

Ăn sáng giúp bạn giảm nguy cơ tiểu đường?

Theo tạp chí Sức Khỏe (Sống Khỏe) |

Ăn sáng giúp giảm cân, tăng cường hệ miễn dịch, cải thiện bộ não và thông minh hơn.

Hạt dẻ cười tốt cho tim, giảm nguy cơ tiểu đường

Tạp chí Sức Khỏe (Sống Khỏe) |

Hạt dẻ cười là một trong những loại hạt ngon và bổ dưỡng nhất. Nhờ chứa nhiều chất béo lành mạnh, protein, vitamin và khoáng chất, loại hạt này rất có lợi cho sức khỏe. Dưới đây là những lợi ích sức khỏe tuyệt vời của hạt dẻ cười:

Điểm danh những loại rau chữa bệnh tiểu đường hiệu quả

Tạp chí Sức Khỏe (Theo Phụ Nữ Kiều Việt) |

Rau xanh là nguồn thực phẩm không thể thiếu trong các bữa ăn gia đình, đặc biệt là cho người bị tiểu đường. Rau xanh nguồn thực phẩm bổ dưỡng và rất có lợi cho sức khỏe, rau không chứa nhiều calo mà lại giàu chất xơ.

Ù tai có liên quan đến bệnh tiểu đường không?

|

Tôi năm nay đã 61 tuổi, bị tiểu đường cách nay gần 5 năm. Trước đây, tôi thường tập thể dục bằng cách đi bộ, nhưng thường hay bị nặng chân và giờ đã chuyển sang đạp xe đạp. Nhưng sau mỗi lần đi xe đạp, tôi bị ù tai.

Đái tháo đường thai kỳ: Những nguy cơ cho mẹ và bé

|

Đái tháo đường thai kỳ là đái tháo đường xảy ra trên phụ nữ được phát hiện lần đầu tiên khi mang thai. Trong 100 phụ nữ mang thai ở Mỹ thì có 3-8 phị nữ bị đái tháo đường thai kỳ.

Chất tạo ngọt cho người tiểu đường, ăn kiêng

|

Được biết đến là chất thay thế đường dành cho những ai đang trong quá trình giảm cân hay mắc bệnh tiểu đường. Nhưng liệu nó có thể thay thế hoàn toàn trong thực đơn hàng ngày và an toàn tuyệt đối khi sử dụng? Hãy cùng Sức Khỏe tìm hiểu nhé!

Vấn đề cần biết về đái tháo đường ở trẻ em

|

(Sức khỏe) Đái tháo đường (tiểu đường) là một trong những bệnh mãn tính gây tác hại đến sức khỏe của trẻ em thường gặp nhất. Bệnh có thể xảy ra cho trẻ em ở mọi lứa tuổi, kể cả lứa tuổi chập chững biết đi.