Áp xe phổi: Cách nhận biết và điều trị

|

(Sức Khỏe – khoe24h) Áp xe phổi là ổ mủ trong nhu mô phổi do viêm nhiễm hoại tử cấp tính không phải lao, sau khi ộc mủ tạo thành hang. Áp xe phổi có thể có một hoặc nhiều ổ. Khi điều trị nội khoa quá 6 tuần thất bại thì gọi là áp xe phổi mạn tính.

Áp xe phổi, chẩn đoán áp xe phổi, điều trị áp xe phổi, phòng bệnh áp xe phổi, thuốc trị áp xe phổi, kháng sinh áp xe phổi, phẩu thuất áp xe phổi, , tạp chí sức khỏe, khoe24h, tap chi suc khoe, sức khỏe, suc khoe.
Hình minh họa. (Ảnh internet)
Chẩn đoán áp xe phổi

Chẩn đoán xác định

Triệu chứng lâm sàng

−  Sốt: 3805C - 390C hoặc cao hơn, có thể kèm rét run hoặc không.

−  Đau ngực bên tổn thương, có thể có đau bụng ở những bệnh nhân áp xe phổi thuỳ dưới.

−  Ho khạc đờm có mủ, đờm thường có mùi hôi hoặc thối, có thể khạc mủ số lượng nhiều (ộc mủ), đôi khi có thể khạc ra mủ lẫn máu hoặc thậm chí có ho máu nhiều. Có thể có trường hợp chỉ ho khan.

−  Khó thở, có thể có biểu hiện suy hô hấp: thở nhanh, tím  môi, đầu chi, PaO2 giảm, SaO2 giảm.

−  Khám phổi: có thể thấy ran nổ, ran ẩm, ran ngáy, có khi thấy hội chứng hang, hội chứng đông đặc.

Cận lâm sàng

−  Công thức máu: thường thấy số lượng bạch cầu > 10 giga/lít, tốc độ máu lắng tăng.

−  X-quang phổi: hình hang thường có thành tương đối đều với mức nước hơi. Có thể có 1 hay nhiều ổ áp xe, một bên hoặc hai bên.

−  Cần  chụp  phim  X-quang  phổi  nghiêng  (có  khi  phải  chụp cắt  lớp  vi tính) để xác định chính xác vị trí ổ áp xe giúp chọn phương pháp dẫn lưu mủ phù hợp.

−  Nhuộm soi trực tiếp và nuôi cấy vi khuẩn từ đờm, dịch phế quản hoặc mủ ổ áp xe. Cấy máu khi sốt > 38,50C. Làm kháng sinh đồ nếu thấy vi khuẩn.

Chẩn đoán nguyên nhân

Việc xác định căn nguyên phải dựa vào xét nghiệm vi sinhvật đờm, dịch phế quản, máu hoặc bệnh phẩm khác.

Các tác nhân gây áp xe phổi thường là  Staphylococcus aureus, Klebsiella pneumoniae,  Pseudomonas  aeruginosa,  E.  Coli,  Proteus, vi  khuẩn  yếm  khí, Streptococcus pneumoniae, Hemophilus influenzae. Một số trường hợp do nấm, ký sinh trùng (amíp).

Cần tìm các yếu tố thuận lợi như nghiện r−ợu, suy giảm miễn dịch do HIV hoặc các thuốc ức chế miễn dịch, tìm các ổ nhiễm khuẩn nguyên phát: răng hàm mặt, tai mũi họng,…

Chẩn đoán phân biệt

−  Tràn khí tràn dịch màng phổi: hình mức nước - hơi trênphim X-quang phổi thẳng và phim X-quang phổi nghiêng có chiều dài khác nhau. Nếu là áp xe phổi thì hai kích thước này gần bằng nhau.

−  Ung thư phổi áp xe hoá:

+  Bệnh nhân thường > 45 tuổi, tiền sử nghiện thuốc lá, thuốc lào.

+  Bên cạnh triệu chứng áp xe phổi, có thể thấy các triệu chứng khác như nuốt nghẹn, nói khàn, móng tay khum, ngón dùi trống, phù áo khoác, đau các khớp ...

+  Phim  X-quang  phổi  thấy  hang  có  thành  dày,  thường  lệch  tâm,  xung quanh có các tua gai, ít khi có hình ảnh mức nước hơi.

+  Chỉ định soi phế quản ở các bệnh nhân áp xe phổi và sinhthiết nếu có tổn thương để chẩn đoán xác định.

−  Kén khí phổi bội nhiễm:

+  Biểu hiện lâm sàng giống áp xe phổi.

+  X-quang phổi: hình hang thành mỏng < 1 mm, có mức nước hơi và sau khi điều trị như một áp xe phổi thì kén khí vẫn còn tồn tại.

−  Giãn phế quản hình túi cục bộ:

+  Tiền sử ho, khạc đờm hoặc có khi ho ra máu kéo dài nhiều năm, nghe phổi có ran ẩm, ran nổ tồn tại lâu.

+  Hình ảnh X-quang phổi: có nhiều ổ sáng xen kẽ vùng mờ không đều, chụp cắt lớp vi tính lồng ngực lớp mỏng, độ phân giải cao giúp chẩn đoán xác định.

−  Lao phổi có hang:

+  Lao phổi thường tiến triển từ từ với toàn trạng gầy sút, suy sụp, sốt về chiều, ho khạc đờm, hoặc máu.

+  Có tiếp xúc với người mắc lao.

+  Tìm  thấy  trực  khuẩn  kháng  cồn  kháng  toan  (AFB)  trong  đờm  (lấy  3 mẫu đờm liên tục trong 3 buổi sáng). Nuôi cấy tìm vi khuẩn lao trên môi trường.

Loweinstein hoặc môi trường lỏng MGIT-BACTEC  để xác định chính xác loại vi khuẩn và kháng sinh đồ.

+  Phản ứng Mantoux với tuberculin trong nhiều trường hợp dương tính mạnh.

+  Máu lắng tăng.

+  X-quang  phổi:  trên  nền  tổn  thương  thâm  nhiễm  hoặc  xơ  hoá  có  một hoặc nhiều hang, thường khu trú ở đỉnh phổi.

Điều trị áp xe phổi

Điều trị nội khoa

Điều trị kháng sinh

−  Nguyên tắc dùng kháng sinh:

+  Phối hợp từ 2 kháng sinh, theo đường tĩnh mạch hoặc tiêm bắp.

+  Liều cao ngay từ đầu.

+  Sử dụng thuốc ngay sau khi lấy được bệnh phẩm chẩn đoán vi sinh vật.

+  Thay đổi kháng sinh dựa theo diễn biến lâm sàng và kháng sinh đồ nếu có.

+  Thời gian dùng kháng sinh ít nhất 4 tuần (có thể kéo dàiđến 6 tuần tuỳ theo lâm sàng và X-quang phổi).

−  Các loại kháng sinh có thể dùng như sau:

+  Penicilin G 10 - 50 triệu đơn vị tuỳ theo tình trạng và  cân nặng của bệnh nhân, pha truyền tĩnh mạch chia 3 - 4 lần/ngày,kết hợp với 1 kháng sinh nhóm aminoglycosid:

° Gentamycin 3-5 mg/kg/ngày tiêm bắp 1 lần hoặc.

° Amikacin  15  mg/kg/ngày  tiêm  bắp  1  lần  hoặc  pha  truyền  tĩnh  mạch trong 250 ml dung dịch natriclorua 0,9%.

+  Nếu  nghi  vi  khuẩn  tiết  betalactamase  thì  thay  penicilin G  bằng amoxicillin + acid clavunalic hoặc ampicillin + sulbactam, liều dùng 3- 6 g/ngày.

+  Nếu nghi ngờ áp xe phổi do vi khuẩn gram âm: dùng cephalosporin thế hệ 3 như cefotaxim 3 - 6 g/ngày, ceftazidim 3 - 6 g/ngày, kết hợp với kháng sinh nhóm aminoglycosid với liều tương tự như đã nêu ở trên.

+  Nếu  nghi  ngờ  áp  xe  phổi  do  vi  khuẩn  yếm  khí:  kết  hợp  nhóm  beta lactam + acid clavunalic với metronidazol liều 1- 1,5 g/ngày, truyền tĩnh mạch chia 2-3 lần /ngày, hoặc penicillin G 10-50 triệu đơn  vị kết hợp metronidazol 1-1,5  g/ngày  truyền  tĩnh mạch,  hoặc  penicilin  G  10-50  triệu  đơn  vị  kết  hợp clindamycin 1,8 g/ngày truyền tĩnh mạch.

+  Nếu  nghi  ngờ  áp  xe  phổi  do  tụ  cầu:  oxacillin  6  –  12  g/ngày  hoặc vancomycin 1-2 g/ngày, kết hợp với amikacin khi nghi do tụ cầu kháng thuốc.

+  Nếu nghi ngờ áp xe phổi do  Pseudomonas aruginosa: ceftazidim 3 - 6 g/ngày,  kết  hợp  với  kháng  sinh  nhóm  quinolon  (ciprofloxacin 1  g/ngày, levofloxacin 750 mg/ngày, moxifloxacin 400 mg/ngày).

+  Nếu  áp  xe  phổi  do  amíp:  metronidazol  1,5  g/ngày,  truyền  tĩnh  mạch chia 3 lần/ngày kết hợp với kháng sinh khác.

+  Chú ý xét nghiệm creatinin máu 1-2 lần/tuần đối với bệnhnhân có sử dụng thuốc nhóm aminoglycosid.

Dẫn lưu ổ áp xe

−  Dẫn  lưu  tư  thế,  vỗ rung  lồng ngực:  dựa  vào  phim  chụp  X-quang phổi thẳng nghiêng hoặc chụp cắt lớp vi tính lồng ngực chọn tư thế bệnh nhân để dẫn lưu, kết hợp với vỗ rung lồng ngực. Dẫn lưu tư thế nhiều lần/ngày, để  BN ở tư thế sao cho ổ áp xe được dẫn lưutốt nhất, lúc đầu trong thời gian ngắn vài phút, sau kéo dài dần thời gian tùy thuộc vào khả năng chịu đựng của bệnh nhân có thể đến 15-20 phút/lần. Vỗ rung dẫn lưutư thế mỗi ngày 2-3 lần.

−  Có thể nội soi phế quản ống mềm để hút mủ ở phế quản giúp dẫn lưu ổ áp xe. Soi phế quản ống mềm còn giúp phát hiện các tổn thương gây tắc nghẽn phế quản và gắp bỏ dị vật phế quản nếu có.

−  Chọc dẫn lưu mủ qua thành ngực: áp dụng đối với những ổ áp xe phổi ở ngoại vi, ổ áp xe không thông với phế quản; ổ áp xe ở sát thành ngực hoặc dính với màng phổi. Sử dụng ống thông cỡ 7- 14F, đặt vào ổ áp xe để hút dẫn lưu mủ qua hệ thống hút liên tục.

Các điều trị khác

−  Đảm bảo chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân.

−  Đảm bảo cân bằng nước điện giải, thăng bằng kiềm toan.

−  Giảm đau, hạ sốt.

Áp xe phổi, chẩn đoán áp xe phổi, điều trị áp xe phổi, phòng bệnh áp xe phổi, thuốc trị áp xe phổi, kháng sinh áp xe phổi, phẩu thuất áp xe phổi, , tạp chí sức khỏe, khoe24h, tap chi suc khoe, sức khỏe, suc khoe.
Hình minh họa. (Ảnh internet)
Điều trị phẫu thuật

Mổ cắt phân thuỳ phổi hoặc thùy phổi hoặc cả 1 bên phổi tuỳ theo mức độ lan rộng với thể trạng bệnh nhân và chức năng hô hấp trong giới hạn cho phép (FEV1 > 1 lít so với số lý thuyết):

−  ổ áp xe > 10 cm.

−  áp xe phổi mạn tính điều trị nội khoa không kết quả.

−  Ho ra máu tái phát hoặc ho máu nặng đe dọa tính mạng.

−  áp xe phối hợp với giãn phế quản khu trú nặng.

−  Có biến chứng rò phế quản khoang màng phổi.

Cách phòng bệnh áp xe phổi

−  Vệ sinh răng miệng, mũi, họng.

−  Điều trị tốt các nhiễm khuẩn răng - hàm - mặt, tai - mũi - họng. Thận trọng khi tiến hành các thủ thuật ở các vùng này để tránh các mảnh tổ chức rơi vào khí phế quản.

−  Khi cho bệnh nhân ăn bằng ống thông dạ dày phải theo dõi  chặt chẽ, tránh để sặc thức ăn.

−  Phòng ngừa các dị vật rơi vào đường thở.

Theo phác đồ điều trị của Bộ Y tế
Tạp chí Sức Khỏe

TAGS

Chăm sóc trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính

|

NKHHCT là bệnh nhiễm khuẩn của đường thở (từ tai, mũi, họng, đường dẫn khí cho đến phổi), thường có biểu hiện ho không quá 30 ngày.

Phòng bệnh đường hô hấp ở người cao tuổi

|

Người cao tuổi, mọi chức năng của cơ thể đều bị suy giảm trong đó sức đề kháng cũng giảm đi thì mọi loại bệnh tật có thể tấn công dễ dàng hơn, nhất là các bệnh gây ra bởi vi sinh vật (virus, vi khuẩn, vi nấm).