Những điều cần biết về chứng rối loạn nhịp tim

|

Dân gian có câu: “Bảy mươi chưa gọi là lành”. Điều này đúng khi áp dụng trong hoàn cảnh sức khỏe con người. Vì y học đã chứng minh rằng, chứng rung nhĩ - một bệnh lý tim mạch nguy hiểm - chỉ chực chờ tấn công người ở độ tuổi 70 trở lên.

Bệnh lý rung nhĩ nguy hiểm vì lý do: hoặc nó hoàn toàn không có triệu chứng hoặc có biểu hiện giống với một số bệnh lý khác. Điều này khiến bệnh nhân hiểu lầm hoặc bỏ qua dấu hiệu của bệnh.

Rung nhĩ: Rất khó định nghĩa một cách “bình dân”
Theo các chuyên gia về tim mạch, rung nhĩ là một thuật ngữ chuyên môn chỉ những người thường bị rối loạn nhịp tim. Đây không phải là một căn bệnh mà là một triệu chứng, hậu quả của nhiều quá trình bệnh lý.  Do đó, rất khó định nghĩa “rung nhĩ là gì” một cách “bình dân” để những người không phải là bác sĩ tim mạch có thể hiểu thấu đáo về triệu chứng này.

Và, theo giáo sư, tiến sĩ Đặng Vạn Phước, Bệnh viện Đại học Y dược TP.HCM, cách định nghĩa sau đây là cách nói dễ hiểu nhất về triệu chứng này: “Rung nhĩ là một trạng thái bệnh lý mà tâm nhĩ của tim không còn co bóp đều đặn bình thường, cơ nhĩ trở nên co bóp hỗn loạn tạo nên sóng rung trên điện tâm đồ”.

rối loạn nhịp tim, biểu hiện của chứng rối loạn nhịp tim, rung nhĩ là gì, cách phòng tránh chứng rối loạn nhịp tim, hậu quả của chứng rối loạn nhịp tim, hậu quả của chứng rồi loạn nhịp tim là gì

Nhiều nguyên nhân dẫn đến rung nhĩ
Rung nhĩ xuất phát từ các bệnh tim như: hẹp van hai lá, tăng huyết áp, bệnh động mạch vành; từ bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (thường gọi là COPD). Ngoài ra, rung nhĩ còn có nguyên nhân do biến chứng của bệnh nội tiết như cường giáp trạng.

 

Hậu quả khó lường

Rung nhĩ rất nguy hiểm vì nó sẽ dẫn đến nhiều hậu quả: Trước tiên, làm mất khả năng tống máu của tâm nhĩ. Sau đó, tình trạng rung nhĩ tạo nên nhịp tim không đều mà người ta gọi là loạn nhịp hoàn toàn.

Rung nhĩ ảnh hưởng rất lớn đến sinh hoạt, chất lượng cuộc sống của người bệnh. Khi rung nhĩ xảy ra, ngoài  các triệu chứng hồi hộp, tim đập mạnh, nhịp tim không đều hoặc tim đập quá nhanh…, rung nhĩ còn làm suy giảm chức năng tim. Điều này sẽ gây ra mệt mỏi, giảm khả năng gắng sức của người bệnh. Đồng thời, rung nhĩ sẽ làm xuất hiện nguy cơ hình thành các cục máu đông trong tim. Khi rung nhĩ xảy ra, tim co bóp nhanh, chậm thất thường khiến máu lưu thông không đều nên có thể bị ứ đọng hình thành các cục máu đông. Khi tim co bóp mạnh sẽ tống những cục máu đông đến các cơ quan trong cơ thể. Những cục máu này có thể di chuyển lên não làm nghẽn mạch và gây ra biến chứng đột quỵ. Đây là một nguy cơ quan trọng của rung nhĩ.

rối loạn nhịp tim, biểu hiện của chứng rối loạn nhịp tim, rung nhĩ là gì, cách phòng tránh chứng rối loạn nhịp tim, hậu quả của chứng rối loạn nhịp tim, hậu quả của chứng rồi loạn nhịp tim là gì

 

Trạng thái bệnh lý có hoặc không có biểu hiện
Khi có triệu chứng rung nhĩ, biểu hiện rõ nhất là bệnh nhân bỗng dưng cảm thấy hồi hộp, tim đập mạnh, không đều. Tuy nhiên, người ta cũng có thể thấy hồi hộp, tim đập mạnh khi lo lắng một điều gì đó. Nhưng cũng có những trường hợp bị rung nhĩ nhưng hoàn toàn không có triệu chứng gì. Do đó, việc chẩn đoán chính xác rung nhĩ phải cần đến những xét nghiệm chuyên môn.

Nghiên cứu cho thấy, rung nhĩ thường gặp nhất ở người cao tuổi, từ 70 tuổi trở lên. Trong 10% người trên 70 tuổi có rung nhĩ, phần lớn lại có liên quan đến tăng huyết áp, bệnh động mạch vành và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD). Điều này cho thấy, rung nhĩ là mối đe dọa đối với người cao tuổi.

Dễ tái phát nếu phát hiện và điều trị muộn
Hiện nay, có nhiều phương pháp điều trị rung nhĩ với mục đích tái lập nhịp tim đều hoặc làm chậm nhịp tim lại. Các biện pháp này bao gồm từ thuốc điều trị loạn nhịp đến những biện pháp đánh sốc điện để chuyển nhịp.

Hiệu quả của việc điều trị rung nhĩ tùy thuộc rất lớn vào thời gian phát hiện được rung nhĩ. Nghĩa là nếu phát hiện sớm, hiệu quả điều trị sẽ khả quan hơn. Nếu phát hiện muộn  dù có điều trị cũng khó hồi phục và dễ tái phát sau đó.

Thực tế cho thấy, có rất nhiều bệnh nhân không đi khám đều đặn hoặc có biểu hiện của rung nhĩ nhưng không biết nên bỏ qua. Đến khi phát hiện, thời gian đã lâu. Việc điều trị khó khăn và kết quả điều trị bị hạn chế rất nhiều.

Một bệnh nhân bị tăng huyết áp, nếu được đi khám đều đặn, mỗi lần khám, bác sĩ sẽ đo nhịp tim, nếu thấy bình thường thì không có vấn đề gì. Nhưng nếu phát hiện có nhịp tim khác thường, bác sĩ sẽ nghi ngờ có triệu chứng rung nhĩ và sẽ đề nghị đo nhịp tim để xác định có rung nhĩ hay không. Nếu xác định đúng là rung nhĩ, sẽ lập tức điều trị. Như vậy, hiệu quả sẽ tốt, bệnh nhân có khả năng hồi phục cao, rung nhĩ hạn chế bị tái phát sau điều trị.

Nhưng cũng là bệnh nhân cao huyết áp, nếu không tái khám đều đặn, khi có dấu hiệu rung nhĩ sẽ không biết, không điều trị ngay lập tức. Triệu chứng cứ thế phát triển. Đến lúc rung nhĩ biến chuyển quá nặng, bệnh nhân khó thở, mệt mỏi mới đến khám thì đã muộn. Lúc này, điều trị bệnh hiệu quả sẽ thấp và rung nhĩ rất dễ tái phát.

Phòng ngừa: Điều trị tốt các bệnh nguyên nhân
Trong phòng ngừa rung nhĩ, có hai cách là phòng ngừa trực tiếp và phòng ngừa gián tiếp.

Trong 10% người trên 70 tuổi có rung nhĩ, phần lớn có liên quan đến tăng huyết áp, bệnh động mạch vành và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính. Điều này cho thấy, rung nhĩ là mối đe dọa đối với người cao tuổi.

Phòng ngừa trực tiếp: Chủ yếu là điều trị thật tốt và đúng đắn các bệnh lý là nguyên nhân gây rung nhĩ như tăng huyết áp, động mạch vành và quản lý điều trị tốt bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD). Người lớn tuổi rất cần được khám và kiểm tra điện tâm đồ định kỳ.

Phòng ngừa gián tiếp: Tạo lối sống, sinh hoạt điều độ lành mạnh ngay từ khi còn trẻ để hạn chế tối đa các bệnh về tim mạch và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính. Cần tránh xa các thói quen có hại như hút thuốc lá, uống bia rượu thường xuyên, thức quá khuya, ăn quá nhiều, lười vận động khiến thừa cân, béo phì…

 GS. TS. ĐẶNG VẠN PHƯỚC, 
Phó giám đốc, BV Đại học Y dược TP.HCM
. MỸ LAN
Theo Tạp chí Sức Khỏe